phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS của Phòng GD&ĐT Chƣơng 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS của Phòng GD&ĐT huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương Chƣơng 3: Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS của Phòng GD&ĐT huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Thế giới chúng ta đã bước sang thế kỉ thứ XXI, thế kỉ của nền khoa học công nghệ cao và yếu tố con người luôn đóng vai trò quyết định cho sự phát triển của bất kì quốc gia, dân tộc nào. Chính vì lẽ đó, GD&ĐT chiếm giữ một vị thế vô cùng quan trọng đối với việc đào tạo - phát triển con người, trong đó có ĐNGV.
Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, V. Lê Nin đã rất coi trọng việc xây dựng ĐNGV. Người viết: “Chúng ta phải làm cho GV ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản”. Lê Nin yêu cầu phải: “Nâng cao một cách có hệ thống kiên nhẫn, liên tục trình độ tinh thần của GV.
nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ”. Nhà xã hội học người Mĩ, Leonard Nadle đã nghiên cứu và đưa ra sơ đồ quản lý nguồn nhân lực, chỉ rõ mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn nhân lực. Theo ông, quản lý nguồn nhân lực có 3 nhiệm vụ chính là: phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực và môi trường nguồn nhân lực. Kết quả nghiên cứu này đã được nhiều nước sử dụng.
Đặc biệt, Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực Nhà nước” cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một lý thuyết tổng thể về quản lý phát triển nguồn nhân lực [13, tr. Hiệp hội những người làm công tác đào tạo và phát triển Mĩ (ASTD) đã có nhiều nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực (mô hình của McLagan). Công trình này đã được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học và các chương trình đào tạo những người làm công tác phát triển nguồn nhân lực tại Mĩ và nhiều quốc gia trên thế giới (Dooley et al, 2001; Dare and Leach, 1998; Leach, 1993; Powell and Hubschman, 1999; Rothwell and Lindholm, 1999) [Dẫn theo Tạ Ngọc Tấn, 34]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức đã nói đến những vai trò của người GV trong thời đại mới, đó là: vai trò người thiết kế, vai trò người tổ chức, vai trò người cổ vũ, vai trò người canh tân.
Để thực hiện những vai trò này thì phải nâng cao chất lượng người GV như: Các chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp giảng dạy mới nhất; GV phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là người thợ dạy (chuyên gia truyền đạt kiến thức); Việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những qui định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền [11]. Tháng 4 năm 2000, tại Dakar - Senesgal, Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức đã coi chất lượng GV là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là GV có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá HS, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và sự đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học [33, tr. Bàn về một số vấn đề đào tạo GV, Michel Develay đã xuất phát từ lý luận về học đến lý luận về dạy để bàn về vấn đề đào tạo GV.
Ông quan niệm: “Ðào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [32, tr. Ở tác phẩm này, Michel Develay cũng đã bàn về các vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV… 1. Những nghiên cứu trong nước Lịch sử nghiên cứu vấn đề về phát triển ĐNGV gắn liền với lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Hiện nay nền giáo dục nước ta đã xây dựng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đáp ứng một cách tích cực nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài của xã hội.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng phát triển GD&ĐT và coi đó là “quốc sách hàng đầu”, xem đây là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát huy nguồn lực con người trong cạnh tranh quốc tế, trong đó đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là những người trực tiếp thực hiện. Do đó, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục. Nghị quyết IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII chỉ rõ: “Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội”; “Để đảm bảo chất lượng GD&ĐT, phải giải quyết tốt vấn đề thầy giáo”, chăm lo xây dựng ĐNGV, đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng; muốn nâng cao chất lượng ĐNGV phải tạo ra sự chuyển biến về chất lượng các trường Sư phạm; muốn huy động hết tiềm lực của cả ĐNGV vào sự nghiệp giáo dục cho thế hệ trẻ phải có chính sách đãi ngộ nhà giáo và chế độ sử dụng giáo viên hợp lý, “thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên, khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học”…“Kết hợp đào tạo giáo viên mới với bồi dưỡng thường xuyên những giáo viên đang làm việc”. Trong những năm gần đây, nhiều đề án, công trình nghiên cứu khoa học và nhiều giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi.
Nghiên cứu về ĐNGV được thực hiện dưới góc độ QLGD ở cấp độ vĩ mô và vi mô. Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề ĐNGV dưới góc độ QLGD theo ngành, cấp học đã được thực hiện. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại này của các tác giả: Đặng Quốc Bảo; Nguyễn Thanh Bình; Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Trần Thị Bạch Mai; Nguyễn Thanh Hoàn; Trần Bá 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoành; Nguyễn Sỹ Thư…Tại Hội thảo Khoa học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải. cũng đã đề cập đến việc đào tạo ĐNGV trước nhiệm vụ mới của GD&ĐT [17].
Những nhà nghiên cứu giáo dục và QLGD thực tiễn rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng ĐNGV. Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục tháng 11/2001, tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng ĐNGV. Các thành tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của GV biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực người GV bao gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học.
Ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng GV; hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV; ý chí thói quen và năng lực tự học của GV. Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV [20]. Trong bài “Nghề và Nghiệp của người GV” đăng tải trong Kỷ yếu Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập tính chất nghề nghiệp của người GV. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của giáo viên, thôi thúc người GV sáng tạo, thúc đẩy người GV không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ.
Từ đó, tác giả đề nghị cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mà ở đó GV trong quan hệ với nhau 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có sự chia sẻ “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người GV là nền tảng của mô hình đào tạo GV thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả [25].