CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Về giáo dục thường xuyên: Trên thế giới có một công trình nghiên cứu được thừa nhận như một triết lý giáo dục thế kỷ XXI đó là báo cáo của Ủy ban Quốc tế về giáo dục, với tên gọi “học tập, một kho báu tiềm ẩn” dưới sự chủ trì của Jacques Delors, do UNESCO công bố tháng 4 năm 1996, theo đó một nền giáo dục cần thiết cho thế kỷ XXI phải là họ ậ s ờ x ọ ậ. Học tập suốt đời được coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI, xã hội học tập là xã hội mà ở đó tất cả mọi người dân đều có cơ hội học tập để phát huy hết tiềm năng của mình. Các nhà giáo dục hàng đầu thế giới như Alvin Toffler, Warren Bennis, Stephen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge, Thoms L.Roysingh, Tsunesaburo Makiguchi đã phân tích các đặc trưng của xã hội hiện đại, một xã hội được xây dựng trên nền tảng của tri thức đang phát triển rất nhanh, biến đổi rất mau lẹ ở cấp độ toàn cầu, từ đó các ông kết luận rằng cần phải xây dựng một xã hội học tập giúp cho mọi người dân được học tập thường xuyên và suốt đời.
Ở Việt Nam xã hội học tập được hình thành từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Ngay trong những ngày đầu chính quyền cách mạng còn non trẻ, Người coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc ngoại xâm, kêu gọi toàn dân “.phải học và học tập suốt đời, còn sống thì phải học.”, “Học không bao giờ cùng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng phải học thêm.” Đối với cán bộ Bác khuyên “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời…không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi.
Thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. - Trong những năm 80 - 90 của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến ý nghĩa của xu thế phát triển giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời, tiêu biểu như: Phạm Minh Hạc, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Minh Đường, Vũ Ngọc Hải, Phạm Tất Dong, Đặng Quốc Bảo, Mạc Văn Trang, Tô Bá Trượng, Đào Thái Lai, Tạ Ngọc Thanh, Thái Xuân Đào, Vũ Đình Ruyệt, Ngô Văn Cát v. với nhiều công trình nghiên cứu được công bố. - Về đào tạo phát triển giáo viên: Lịch sử xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên gắn liền với lịch sử phát triển của ngành giáo dục Việt Nam.
Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành nước ta đã có một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học và cùng với các thành tựu ấy, chúng ta đã có một đội ngũ giáo viên hùng hậu như ngày nay. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “không có thầy giáo thì không có giáo dục”, “các thầy, cô giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, nhà nước cần chăm lo đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và các “trường sư phạm phải là trường mô phạm”. Thực hiện tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn nửa thế kỷ qua Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên và tổ chức nghiên cứu về giáo viên, trong đó có giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên.
Từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước, nhiều công trình nghiên cứu về giáo viên nói chung và giáo dục thường xuyên nói riêng đã được triển 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khai, tiêu biểu nhất là những công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách giáo viên và người cán bộ quản lý nhà trường của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhiều công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục. Nhiều hội thảo khoa học về chủ đề về đào tạo giáo viên theo ngành học, bậc học đã được tổ chức. Trong những năm 80 - 90 có các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sĩ Hồ, Trần Bá Hoành, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hoàn … Các nhà nghiên cứu giáo dục rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Giáo dục tháng 11 năm 2001 của tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng giáo viên từ đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên. Theo ông chất lượng giáo viên bao gồm hai yếu tố cấu thành đó là phẩm chất và năng lực. Phẩm chất giáo viên đựơc thể hiện ở thế giới quan, lòng yêu nghề, yêu trẻ, đạo đức và tính gương mẫu. Năng lực của giáo viên thể hiện ở sự nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý các lứa tuổi học sinh, năng lực thiết kế và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực đánh giá học sinh, năng lực giải quyết các tình huống nảy sinh trong giáo dục.
Bốn yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên là: đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng giáo viên và năng lực tự học của chính giáo viên. Trong bài viết “Nghề và nghiệp của người giáo viên” tại hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Trần Bá Hoành đã nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm” đó là cái tạo nên động cơ, thôi thúc người giáo viên sáng tạo và không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ của mình. Từ đó tác giả đề nghị cần phải quản lý xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” ở đó giáo viên sẻ chia “bí quyết nhà nghề” để lao động sáng tạo và có hiệu quả. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bài “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” đăng trên Tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng giáo viên bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các nước thành viên OECD.
Tác giả đã đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích qua 22 năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập tới những chính sách quản lý cải thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp độ vĩ mô và vi mô; từ đó tác giả nhấn mạnh đến ba vấn đề quyết định đến chất lượng giáo viên là: Bản thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài. Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển giáo dục - đào tạo. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 - 2020 đã xác định phải “phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn chất lượng”.
Trong chương trình đào tạo sau đại học, chuyên ngành quản lý giáo dục, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu và giảng dạy một cách có hệ thống. Hiện nay trong các trường đại học sư phạm và đại học giáo dục có nhiều luận văn tốt nghiệp cao học chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý phát triển đội ngũ giáo viên. Các công trình tập trung vào các bậc học phổ thông, các trường đại học, cao đẳng và khối trung học chuyên nghiệp. Các nghiên cứu còn đựơc thực hiện dưới góc độ quy hoạch phát triển ở các địa phương, vùng, miền và lãnh thổ.
Ta có thể kể đến các công trình của các tác giả: Nguyễn Thị Yến (2008) “Dự báo, quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo của huyện Nho Quan, Ninh bình đến năm 2015”. “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010” của tác giả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vũ Hồng Hiên. “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Hoàng Ngọc Dũng. “Quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sỏ thuộc phòng Giáo dục huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2006-2015” của tác giả Ngô Thanh Tùng; “Quy hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đế năm 2015” của tác giả Nguyễn Bá Hứa.
Tuy vậy cho đến nay còn rất ít đề tài nghiên cứu về giáo viên GDTX, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên cho các trung tâm giáo dục thường xuyên – một bộ phận đặc thù của đội ngũ nhà giáo cần phải lưu ý trong quản lý, tổ chức đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng. Do vậy, nghiên cứu đề tài này là một đòi hỏi cấp thiết, đang được lãnh đạo trung tâm GDTX An Lão, đồng nghiệp quan tâm mong đợi. Lý luận về quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Từ khi xuất hiện loài người, con người đã biết quy tụ thành từng bày, thành nhóm để tồn tại và phát triển.
Từ lao động giản đơn đến lao động phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong lao động và sinh hoạt cộng đồng nhằm tạo ra được năng suất cao hơn, giá trị hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, đó chính là quản lý. Các quan điểm truyền thống hay các học thuyết quản lý cổ điển, học thuyết quản lý thời văn minh công nghiệp, hay hậu công nghiệp đều có những nét chung của tổ chức quản lý là: cai quản, chỉ huy, lãnh đạo. Theo góc độ điều khiển quản lý là: điều chỉnh, điều khiển.
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm tổ chức phối hợp các quá trình sản xuất, phát triển xã hội để đạt được mục đích đã định. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo học thuyết Mác- Lênin “ x ô k a ọ sự ó ủa ủ q ớ b a ữ k a ủa x .