CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ 1. Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử 1. Khái niệm về khai sinh, khai tử Khai sinh là khai báo và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận một cá nhân được sinh ra; khai tử là khai báo những thông tin cần thiết về mặt thủ tục hành chính về người mới chết; đây là một trong những sự kiện hộ tịch để xác định cá nhân là thực thể của tự nhiên, của xã hội. Đó là các hoạt động: Đăng ký khai sinh là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra, là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một cá nhân.
Nội dung đăng ký là việc xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh…Sau khi được đăng ký khai sinh cá nhân được cơ quan đăng ký cấp cho giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến nhân thân của cá nhân vào sổ đăng kí khai sinh,cập nhật vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy số định danh cá nhân. Đăng ký khai tử là việc nhân thân của người chết hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử. Người đi đăng ký khai tử phải nộp tờ khai theo mẫu 7 quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Nội dung khai tử bao gồm các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết, nếu có; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết theo dương lịch; quốc tịch nếu người chết là người nước ngoài.
Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc khai tử đúng thì cơ quan đăng ký cấp trích lục cho người đi khai tử, đồng thời ghi đầy đủ thông tin người chết vào sổ khai tử và khóa thông tin hộ tịch của người chết trong cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Đối tượng có quyền đăng ký khai sinh, khai tử ở cấp xã UBND cấp xã có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có: Cha và mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân Việt Namđịnh cư ở nước ngoài; Cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam; Cha hoặc mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam, còn người kia là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới 1. Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã Theo giáo trình nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước của học viện chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thì “quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.
Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ 8 chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.” Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ. Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước. Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý.
Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người. Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.Mác đã coi "Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động" [6, tr. Nhấn mạnh nội dung trên, ông viết: " Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.480] Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy.
Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung. Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng 9 của cá nhân đối với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. Khẳng định vấn đề này, Lê Nin đã viết: "Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa".112] Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công việc của xã hội do nhà nước quản lý. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và tổ chức đời sống xã hội theo Hiến pháp, luật của các chủ thể có thẩm quyền (mà phần lớn là do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện). Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước, thông qua việc đăng ký khai sinh, khai tử, tập trung chủ yếu vào các hoạt động: ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động khai sinh, khai tử ; phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động khai sinh, khai tử; đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về đăng ký khai sinh, khai tử; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử; bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử; tổng kết hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử. Từ thời phong kiến cho đến nay, quản lý hộ tịch nói chung và quản lý khai sinh, khai tử nói riêng luôn được coi trọng như một công cụ của nhà nước để bảo vệ quyền nhân thân và hoạch định các chính sách kinh tế - xã 10 hội, an ninh, quốc phòng; mặt khác, nó là hoạt động thể hiện tập trung, sinh động mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Để quản lý dân cư, mỗi quốc gia có những phương thức quản lý khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích quản lý một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác các dữ liệu về đặc điểm nhân thân cơ bản của từng công dân.
Ở Việt Nam, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư. Với những giá trị tiềm tàng như vậy, công tác quản lý hộ tịch đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nó trong tiến trình phát triển của xã hội. Về mặt lý luận, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là lĩnh vực thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của nhà nước nhằm theo dõi sự biến động về dân số trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình. Đồng thời, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó.
Xây dựng một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá luôn sẵn sàn hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội. Đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.