Quản lý nhà nước đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ ở thành phố Hà Nội

Chuyên khảo phân tích Luận văn quản lý nhà nước đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ ở thành phố hà nội, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Quản Lý Công

Người đăng

Ẩn danh

2020

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

1.1. Cơ sở khoa học về công nghiệp hỗ trợ

1.2. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu "Quản lý nhà nước và phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ tại Hà Nội. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách và giải pháp quản lý hiệu quả nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các biện pháp quản lý nhà nước, từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh đến việc đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành công nghiệp hỗ trợ.

Để mở rộng kiến thức về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý kinh tế giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về đảm bảo an toàn hồ chứa trên địa bàn huyện định hóa tỉnh thái nguyên, nơi đề cập đến các giải pháp quản lý an toàn trong lĩnh vực công nghiệp. Ngoài ra, tài liệu Luận văn giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế của huyện hoằng hóa tỉnh thanh hóa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc nâng cao năng lực quản lý trong bối cảnh phát triển kinh tế. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn quận bắc từ liêm thành phố hà nội cũng mang đến cái nhìn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường, một yếu tố quan trọng trong phát triển công nghiệp bền vững.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này.

Trích đoạn nội dung tài liệu

Tính cấp thiết của luận văn Trong hơn 10 năm qua, tăng trƣởng kinh tế (TTKT) Việt Nam đang có dấu hiệu chậm lại. Mặc dù tốc độ tăng trƣởng GDP đã có xu hƣớng phục hồi trở lại trong 2 năm gần đây, tuy nhiên, mô hình tăng trƣởng của Việt Nam cho thấy nhiều bất ổn về mặt kinh tế, TTKT ở Việt Nam chủ yếu theo chiều rộng, nhƣng chƣa đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố tăng trƣởng. Cụ thể là, tăng trƣởng phụ thuộc nhiều hơn vào tăng vốn, tuy nhiên, hiệu quả đầu tƣ thấp; năng suất lao động thấp và tăng chậm; tăng trƣởng các ngành sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo chủ yếu dựa vào lĩnh vực gia công, lắp ráp, trong khi ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) kém phát triển, đã khiến cho sức cạnh tranh quốc gia chậm cải thiện, . Đối với TTKT, CNHT phát triển, trƣớc tiên, có ý nghĩa quan trọng trong thu hút vốn, đặc biệt là vốn FDI, thu hút và nâng cao trình độ lao động, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), . đây chính là các yếu tố cơ bản cho sản xuất của nền kinh tế, tác động trực tiếp đến TTKT. Mặt khác, CNHT thúc đẩy ngành công nghiệp nội địa phát triển thông qua việc cung cấp các hàng hóa trung gian cho quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp trong nƣớc, góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và và giá trị gia tăng của các ngành sản xuất trong nền kinh tế. Từ đó trong ngắn và dài hạn, phát triển CNHT có thể thúc đẩy TTKT. Công nghiệp hỗ trợ luôn đƣợc coi là bộ phận công nghiệp quan trọng, đóng vai trò to lớn trong thay đổi cơ cấu ngành Công nghiệp. Những năm qua, Hà Nội đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy lĩnh vực này. Cụ thể, ngày 27-9- 2017, thành phố đã ban hành Quyết định số 6743/QĐ-UBND phê duyệt "Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố giai đoạn 2017-2020, định hƣớng đến năm 2025". 1 Theo đó, định hƣớng phát triển công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội sẽ tập trung phát triển các lĩnh vực dựa trên nhu cầu và lợi thế phát triển của Hà Nội, phù hợp với yêu cầu, định hƣớng phát triển công nghiệp của thành phố, bao gồm 3 lĩnh vực chủ chốt là sản xuất linh kiện phụ tùng, công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ cho ngành Dệt may - Da giày. Hình thành mạng lƣới sản xuất với nhiều lớp cung ứng, kết nối với các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp tại Hà Nội và các địa phƣơng khác trên cả nƣớc… Những bƣớc đi đúng hƣớng đó đã góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế Thủ đô. Các nhóm ngành và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có thế mạnh của Hà Nội nhƣ sản xuất linh kiện ô tô, xe máy, vật liệu điện, bao bì, linh kiện điện tử. dần thay thế các phụ tùng, linh kiện nhập khẩu, từ đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo sức cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp trong nƣớc. Nhiều chi tiết khó nhƣ bánh răng động cơ, trục khuỷu xe máy. đã đƣợc các doanh nghiệp FDI Nhật Bản sản xuất tại Hà Nội thay cho nhập khẩu. Hiện tại, tỷ lệ nội địa hóa linh kiện xe máy đã đạt hơn 80%. Không chỉ phục vụ sản xuất trong nƣớc, nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn còn góp phần tăng trƣởng xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành Công nghiệp hỗ trợ vẫn chƣa tƣơng xứng thế mạnh của Hà Nội. Hiện nay, giá trị sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ mới chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Đó là do chƣa có sự quan tâm đúng mức của các cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc phát triển công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi cung ứng, do đó em xin chọn đề tài: ―Quản lý nhà nước đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ tại thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ quản lý công. Tình hình nghiên cứu luận văn Trong thời gian gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu liên quan đến công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam nói chung và Thành phố Hà Nội cụ thể nói 2 riêng. Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu khác nhau, cũng nhƣ thời gian thực hiện khác nhau nên mỗi nghiên cứu lại có những nhận định và hàm ý khác nhau. Xem xét về khái niệm, phạm vi của CNHT, tại Việt Nam, CNHT đã đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy theo cách tiếp cận và mục tiêu trong từng công trình nghiên cứu. Nguyễn Thị Xuân Thúy (2005)[31,tr. 39] đề xuất định nghĩa về CNHT ở Việt Nam là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến. Còn theo Hoàng Văn Châu (2010)[5, tr. 23] CNHT là ―Công nghiệp sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng, sản phẩm trung gian, . đóng vai trò là đầu vào và lắp ráp chúng để trở thành sản phẩm cuối cùng. Tƣơng tự, Trương Thị Chí Bình (2010) [2, tr. 15] cho rằng CNHT chỉ toàn bộ việc tạo ra những linh phụ kiện tham gia vào việc hình thành các sản phẩm hoàn thiện cho ngƣời tiêu dùng. Sản phẩm CNHT chủ yếu bao gồm một số lĩnh vực nhƣ kim loại, nhựa và cao su, điện và điện tử. Trong các nghiên cứu tiếp theo, phạm vi CNHT đƣợc mở rộng, theo đó, CNHT đƣợc hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tƣ liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Khái niệm này đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung Huệ (2012)[12], Hà Thị Hương Lan (2014) [15], Phạm Thu Phương (2013) [20], Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền (2011)[22], Nguyễn Ngọc Sơn (2008)[23], Trần Đình Thiên (2012)[25], Đỗ Minh Thụy (2013 [30]), . Còn theo Hoàng Văn Việt (2014)[43, tr.12] đƣa ra định nghĩa CNHT là “những doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng hóa trung gian làm đầu vào cho các ngành sản xuất, chế biến, lắp ráp hàng hóa cuối cùng”. 3 Nghiên cứu về đặc điểm của ngành CNHT, theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương (2009) [41, tr.4], ngành CNHT có 4 đặc điểm là: (i) Sự phát triển CNHT là tất yếu của quá trình phân công lao động; (ii) CNHT là ngành phức tạp và rộng lớn; (iii) CNHT góp phần tạo nên ―chuỗi giá trị‖; (iv) CNHT không phải là ngành công nghiệp phụ. Theo đó, ngành CNHT có đặc điểm là ngành phức tạp và rộng lớn, cả về mặt liên kết ngành hay địa lý do để sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh cần sự tham gia của nhiều DN, nhiều ngành khác nhau; nhờ có CNHT, chuỗi giá trị sẽ đƣợc kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành CN cơ bản và tạo ra giá trị cho nhiều ngành CN khác. Còn theo Hoàng Văn Châu (2010)[5, tr. 26-31], CNHT có các đặc điểm là tính đa cấp; tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính; đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ; thu hút số lƣợng lớn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm này bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thị Huế (2012)[11], Nguyễn Thị Dung Huệ (2012) [12] , Hà Thị Hương Lan (2013) [15], Nguyễn Thị Kim Thu (2012)[27],. Nhận dạng đặc trƣng của CNHT ngành điện tử, theo Trương Thị Chí Bình (2010) [2, tr. 38-39], sản phẩm CNHT ngành điện tử bao gồm 3 nhóm chi tiết linh kiện chính là kim loại, nhựa, cao su; có thể chia thành 2 loại chính là các linh kiện nhỏ, hao tốn ít nguyên vật liệu, tích hợp công nghệ cao, có thể vận chuyển trên toàn thế giới và Các linh kiện chi tiết máy móc lớn, hao tốn nhiều nguyên vật liệu, công nghệ đơn giản hơn, thƣờng đƣợc thực hiện sản xuất hoặc thuê sản xuất tại quốc gia có nhà máy lắp ráp. Về các nhân tố thúc đẩy sự phát triển CNHT, theo Diễn đàn phát triển Việt Nam (2007) [9, tr. 4-27], dung lƣợng thị trƣờng là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong phát triển CNHT - và yếu tố này có thể đƣợc mở rộng thông qua việc tìm kiếm thị trƣờng xuất khẩu. Các yếu tố khác bao gồm: nguồn 4 nhân lực công nghiệp chất lƣợng cao; các ƣu đãi về thuế; môi trƣờng chính sách; khoảng cách về thông tin và nhận thức; các tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn; sự phát triển của công nghiệp sản xuất nguyên liệu thô. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2009) [41, tr.5] lại chỉ ra rằng, các yếu tố ảnh hƣởng đến CNHT là: thị trƣờng của khu vực hạ nguồn; Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ; Nguồn lực tài chính; Mức độ bảo hộ thực tế; Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu, ảnh hƣởng của các tập đoàn xuyên quốc gia và Chính sách Nhà nƣớc liên quan đến phát triển CNHT. Tƣơng tự, Trần Đình Thiên (2012)[25, tr. 32-51] cho rằng, các yếu tố quyết định sự phát triển của CNHT bao gồm: Khả năng cạnh tranh; Dung lƣợng thị trƣờng; Nguồn nhân lực công nghiệp; Môi trƣờng chính sách và Khoảng cách giữa thông tin và nhận thức. Tác giả cho rằng, CNHT Việt Nam còn thiếu và yếu là do dung lƣợng thị trƣờng nhỏ, không đủ đảm bảo cho các doanh nghiệp CNHT phát huy quy tắc ―hiệu quả nhờ quy mô‖; Môi trƣờng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chậm đƣợc cải thiện, sức cạnh tranh của sản phẩm hỗ trợ còn thấp do năng suất thấp, giá thành cao, chất lƣợng không ổn định, thời hạn giao hàng không đảm bảo; Thiếu các cơ sở sản xuất vật liệu cơ bản đạt chất lƣợng; Chƣa có chính sách khuyến khích phát triển CNHT một cách thỏa đáng, ổn định. Tuy nhiên, CNHT Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển trong bối cảnh của xu thế phát triển KHCN của thế giới, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhu cầu thị trƣờng của các công ty đa quốc gia và sự gia tăng của các dự án đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Còn theo Trương Thị Chí Bình (2010) [2, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ