phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. 8 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về nguồn nhân lực của cảnh sát cơ động – Công an thành phố Hà Nội Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về nguồn nhân lực của cảnh sát cơ động - Công an thành phố Hà nội. Chƣơng 3: Hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về nguồn nhân lực của cảnh sát cơ động - Công an thành phố Hà Nội. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CẢNH SÁT CƠ ĐỘNG - CÔNG AN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.
Khái quát về nguồn nhân lực của Cảnh sát Cơ động 1. Một số khái niệm về Nguồn nhân lực Nguồn lực là một trong những yếu tố trọng tâm, quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong nền kinh tế dựa vào tri thức hiện nay. Theo từ điển tiếng việt “nguồn” có nghĩa là nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi có thể cung cấp [66,692]. “Lực” theo nghĩa cơ học là động lực để thúc đẩy để phát triển mang tính mạnh mẽ, chất chứa là tài nguyên cho sự phát triển.
Nguồn lực đƣợc hiểu là toàn bộ các yếu tố vật chất, tinh thần nhằm tạo ra sức mạnh cho sự phát triển của một tổ chức, một quốc gia, một dân tộc. Nguồn lực bao hàm nghĩa rộng và có nhiều cấp độ khác nhau nếu hiểu theo cách đơn giản thì nguồn lực đƣợc chia thành: nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài. Có nhiều dạng nguồn lực khác nhau nhƣng nguồn lực con ngƣời đƣợc xem là quan trọng nhất bởi nó có khả năng gắn kết định hƣớng cho các nguồn lực khác phát triển, nguồn lực con ngƣời có thể tạo ra các nguồn lực khác, các nguồn lực khác không có nguồn lực con ngƣời thì không phát triển đƣợc. Nguồn nhân lực là một loại nguồn lực của tổ chức - đó chính là con ngƣời (nhân lực), do chính con ngƣời khai thác nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con ngƣời tích luỹ đƣợc, có khả năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995). Nguồn nhân lực, theo Giáo sƣ Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. 10 Nguồn nhân lực còn đƣợc hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con ngƣời (thể lực, trí tuệ, năng lực, kỹ năng) và tính năng động xã hội của con ngƣời (nhân cách, văn hóa, giá trị…). Theo cách tiếp cận này, nguồn nhân lực có nội hàm rất rộng, bao gồm các yếu tố nhƣ thể lực, tri thức, khả năng, nhận thức và tiếp thu kiến thức, kỹ năng lao động, yếu tố xã hội nhƣ giá trị truyền thống văn hóa.
Theo thuyết lao động xã hội nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển xã hội bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực và trí lực huy động vào quá trình lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực cung cấp sức lao động cho sản xuất, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho phát triển. Nhà kinh tế học ngƣời Mỹ đã đoạt giải Nobel kinh tế năm 1992 Gary Banker cho rằng “không có đầu tƣ nào mang lại nguồn lợi lớn nhƣ đầu tƣ vào nguồn nhân lực”.
Tổ chức Liên hợp quốc thì cho rằng “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực hiện có thực tế dƣới dạng tiềm năng của con ngƣời để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng” [46,24]. Tại Việt Nam trong cuốn “Giáo trình nguồn nhân lực” của trƣờng Đại học Lao động Xã hội do PGS,TS. Nguyễn Tiệp chủ biên đã đƣa ra quan niệm rằng “nguồn nhân lực bao gồm dân cƣ có khả năng lao động” [56,7]. Nhƣ vậy nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Còn theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động [56,8]. Trong công trình nghiên cứu “Ảnh hƣởng của văn hóa với việc phát huy nguồn lực con ngƣời” GS, TS. Hoàng Chí Bảo có viết “nguồn lực là sự kết hợp thể lực, trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lƣợng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển của con ngƣời [23,14]. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc thì nguồn nhân lực là dân số, là thể chất, là tinh thần, trí tuệ, sức khỏe, thái độ, phong cách làm việc.
Mặc dù cách thức tiếp cận của các nhà khoa học trên thế giới và trong nƣớc ở nhiều góc độ khác nhau nhƣng 11 tựu chung lại thì nguồn nhân lực chính là sự kết hợp các giá trị của con ngƣời thể hiện bởi tƣ tƣởng, đạo đức, sức khỏe, trình độ. Số lƣợng của nguồn nhân lực chính là số ngƣời trong độ tuổi lao động có thể tham gia vào quá trình lao động sản xuất phát triển xã hội. Số lƣợng nguồn nhân lực bị chi phối và phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên và môi trƣờng xã hội. Cơ cấu nguồn nhân lực đƣợc thể hiện qua độ tuổi, giới tính, sự phân bố nguồn lực.
Chất lƣợng nguồn nhân lực là tiềm năng của con ngƣời biểu hiện qua lao động trong đó thể lực đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và cá nhân nói riêng. Muốn có năng lực lao động thì con ngƣời phải có một cơ thể khỏe mạnh, và ngƣợc lại, nếu con ngƣời không nâng cao đƣợc thể lực thì cũng khó có thể phát triển đƣợc trí tuệ, khả năng sáng tạo trong học tập và lao động. Tri thức là đặc điểm quan trọng để đánh giá chất lƣợng của nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức. Mọi thành phần tự phục vụ cuộc sống con ngƣời và giải phóng sức lực cho con ngƣời trong lao động đều gắn liền với tri thức và kết quả ứng dụng chúng trong thực tiễn.
Một đặc điểm đáng lƣu ý nữa là con ngƣời trong nền kinh tế tri thức phải có khả năng sáng tạo tri thức mới. Với yêu cầu này thì không phải bất cứ con ngƣời nào nằm trong nguồn nhân lực cũng có thể đáp ứng đƣợc. Bên cạnh kỹ năng, năng lực, nguồn nhân lực mang đặc điểm tập quán riêng, tâm lý riêng. Mỗi con ngƣời sinh ra và trƣởng thành trong môi trƣờng nhất định đều mang theo những tập quán sinh hoạt, tâm lý, phẩm chất riêng hình thành trong quá trình phát triển của mỗi con ngƣời.
Kế thừa và phát huy truyền thống của ông cha trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, Đảng ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân bảo vệ và dựng xây Tổ quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh coi con ngƣời là trung tâm của sự phát triển “Con ngƣời là nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nƣớc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta một lần nữa khẳng định trong văn 12 kiện “chiến lƣợc phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao”. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là phát triển con ngƣời toàn diện, con ngƣời có thể chất, trí tuệ, đạo đức, trình độ, tƣ duy, năng lực là động lực để phát triển xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực cảnh sát cơ động Theo Luật Công an Nhân dân, lực lƣợng Cảnh sát bao gồm : Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ cảnh sát và những ngƣời tham gia phục vụ cho các hoạt động của lực lƣợng Cảnh sát.
Cảnh sát cơ động thuộc Công an nhân dân, là lực lƣợng nòng cốt thực hiện biện pháp vũ trang bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại điều 8 của Pháp lệnh số 08/2013/UBTVQH13, lực lƣợng Cảnh sát cơ động bao gồm: - Lực lƣợng đặc nhiệm; - Lực lƣợng tác chiến đặc biệt; - Lực lƣợng bảo vệ mục tiêu; - Lực lƣợng huấn luyện, sử dụng động vật nghiệp vụ. Nguồn nhân lực của lực lƣợng Cảnh sát cơ động bao gồm: sỹ quan hạ sỹ quan chuyên nghiệp, chiến sỹ nghĩa vụ (công dân phục vụ có thời hạn), công nhân viên và hợp đồng lao động hƣởng lƣơng từ ngân sách, đƣợc chia thành 2 nhóm: + Số trong biên chế gồm có: sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp, công nhân viên. + Số ngoài biên chế gồm có: chiến sỹ nghĩa vụ hay còn gọi là công dân phục vụ có thời hạn.
Hàng năm, đƣợc Công an TP tuyển dụng đào tạo, huấn luyện sơ lƣợc tại các Trung tâm huấn luyện của lực lƣợng Công an. Sau đó phân bổ cho một số đơn vị nghiệp vụ thuộc Công an TP thực hiện nhiệm vụ canh gác bảo vệ cơ quan, các mục tiêu trọng điểm, dẫn giải can phạm, phạm 13 nhân, thực hiện nhiệm vụ của cảnh sát cơ động. Hợp đồng lao động đƣợc Công an TP tuyển chọn phân bổ cho đơn vị trên cơ sở đề xuất và hƣởng lƣơng từ ngân sách CATP. Số lƣợng nguồn nhân lực Cảnh sát cơ động đƣợc đánh giá và thể hiện thông qua yêu cầu nhiệm vụ hàng năm.
Qua việc CBCS xuất ngũ, nghỉ hƣu, chuyển ngành, chết, chuyển công tác sang các đơn vị khác. Trên cơ sở đó, ngành Công an phân bổ số lƣợng CBCS trong biên chế phù hợp, tham gia bảo vệ an ninh Quốc gia và giữ gìn TTATXH trên các địa bàn. Nguồn tăng cƣờng chủ yếu là học viên đƣợc đào tạo từ các Trƣờng Trung cấp vũ trang của lực lƣợng Công an, từ các khoa vũ trang của Trƣờng Học viện Công an, từ các đơn vị vũ trang của Bộ và Công an các địa phƣơng tỉnh thành khác. Đây là lực lƣợng nòng cốt, xung kích, đƣợc đào tạo cơ bản gắn kết với nhau thành hệ thống phân cấp, phân quyền thống nhất từ trên xuống dƣới.
Thể hiện khả năng vũ thuật, cơ động, trấn áp mạnh mẽ các hoạt động tội phạm đem lại sự bình yên và hạnh phúc cho ngƣời dân Thủ đô. Cơ cấu nguồn nhân lực Cảnh sát cơ động đƣợc phân bổ theo vị trí địa lý theo vùng, địa bàn ANTT phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định.