phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Lý luận chung về ngân sách xã và quản lý ngân sách xã Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hoá Chƣơng 3: Các giải pháp tăng cường công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hoá 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 1. Lý luận chung về ngân sách xã 1. Một số vấn đề về cơ bản về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm về ngân sách nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế, lịch sử, gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ.
Ngân sách nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. uật NSNN được quốc hội khóa XI thông qua ngày 16/12/2002 và được Quốc hội khóa XIII thay thế bằng luật ngân sách số 83 ngày 25/6/2015.Theo khoản 14 điều 4 thì [9] Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất đinh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước [9] Về bản chất của NSNN, đằng sau các con số thu chi là quan hệ lợi ích kinh tế giữa NN với các chủ thể khác như DN, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NSNN. NSNN Việt Nam gồm NSTW và NSĐP. NSĐP gồm NS của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND.
Bản chất của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Nó bao gồm những quan hệ tài chính quốc gia, cụ thể: Quan hệ tài chính giữa nhà nước với hộ gia đình, cá nhân: được thể hiện thông qua phân phối lại giữa ngân sách nhà nước với ngân sách của cá nhân và hộ gia đình. ột bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước 5 bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí, một bộ phận khác lại nhận từ ngân sách nhà nước các khoản trợ cấp theo chính sách. Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp: các quan hệ này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của quỹ ngân sách bằng hình thức thuế của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội: quan hệ này phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý nhà nước theo dự toán kinh tế, đồng thời các đơn vị sự nghiệp có thu sử dung một phần nguồn thu để trang trải các khoản chi tiêu của mình và một phần làm nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách. Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế: quan hệ này nảy sinh giữa nhà nước với các tổ chức, công dân nước ngoài, các nhà nước khác và các tổ chức quốc tế. Nó gắn liền với dòng lưu chuyển tiền vốn vào quốc gia thông qua các quan hệ, hoạt động tài chính quốc tế như đầu tư, vay nợ,…. Có thể nói bản chất của ngân sách nhà nước là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách [4] 1.
Đặc điểm của ngân sách nhà nước Thứ nhất: Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Thứ hai: Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước. Thứ ba : Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng. 6 Thứ tư: Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác.
Nét khác biệt của ngân sách nhà nước đó là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định. Thứ năm: Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Vai trò của Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Thứ nhất: Quản lí điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Thông qua hoạt động chi ngân sách, nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt. Trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp).
Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để 7 hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Thứ hai: ích thích sự tăng trưởng kinh tế.
ích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp. Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. Thứ ba: Điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Ngân sách nhà nước có vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt. Thứ tư: Bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng mang tính chất chiến lược.
Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ. iềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp, ngân sách nhà nước góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. Hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước a) Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước.
Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế độ xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính. Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính. Ở nước ta với mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức trên cơ sở cấp chính quyền nhà nước, phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền nhà nước ta hiện nay [10,tr141] Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN: - Nguyên tắc thống nhất và tập trung dân chủ: Hệ thống NSNN được xây dựng căn cứ vào Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối với nước ta, theo quy định của Hiến pháp, Việt Nam là một quốc gia thống nhất, quyền lực Nhà nước thống nhất, do đó chỉ có NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn, dự toán và quyết toán NSNN; Chính Phủ thống nhất quản lý NSNN; Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp giữa cấp ngân sách với chính quyền Nhà nước; Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu đảm bảo nguồn tài chính cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền Nhà nước. Ở Việt nam hiện nay, hệ thống NSNN được phân chia thành các cấp như sau [9,tr143] 9 NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG - Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương NGÂN SÁCH TRUNG ƢƠNG - Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. - Ngân sách xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện. Hệ thống NSNN Việt Nam (Nguồn: Giáo trình Tài chính – Tiền tệ, 2011- Trường Đại học Hồng Đức) Ngân sách trung ƣơng gồm các đơn vị dự toán của các cơ quan trung ương (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ.
Tổ chức xã hội thuộc trung ương, tổ chức đoàn thể trung ương,…). Ngân sách trung ương là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng và an ninh, quan hệ quốc tế.