Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý Ngân sách Nhà nước cấp huyện. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1.
Tổng quan về Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm Ở Việt Nam, NSNN xuất hiện và tồn tại từ lâu, song các hoạt động của nó chỉ nhằm phục vụ chủ yếu cho các nhu cầu hưởng thụ của vua chúa và nuôi dưỡng quân đội. Trong thời kỳ bị thực dân Pháp cai trị Việt Nam mới bắt đầu hình thành cấp NS độc lập của các TP, tỉnh và thị xã, cơ chế tài chính và hệ thống NS ở nước ta mới được hình thành đầy đủ và hoàn chỉnh. Sau khi cách mạng tháng tám thành công Nhà nước ta đã thực hiện quyền lực về NSNN, đã có những chính sách mang tính chất cách mạng triệt để như sắc lệnh về việc bãi bỏ thuế thân, hình thành hệ thống thuế mới giảm bớt gánh nặng thuế khoá cho dân nghèo.
Ở thời kỳ này NSNN được tổ chức thành hai cấp: NS TW và NS tỉnh, TP trực thuộc TW. Hình thức phân cấp ở thời kỳ này phù hợp với mức độ phân cấp kinh tế mà mỗi chính quyền tỉnh, TP trực thuộc TW đảm nhận. Từ sau năm 1976 vai trò kinh tế, xã hội của các cấp chính quyền dần được nâng cao, hệ thống NSNN cũng được hoàn thiện dần cho phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế đòi hỏi. Hiện nay hệ thống NSNN được bố trí lại theo đơn vị hành chính bao gồm: NS TW; NS tỉnh, TP trực thuộc TW; NS TP trực thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện và NS xã, thị trấn, phường.
Tổ chức hệ thống NSNN Việt Nam là tổ chức theo mô hình Nhà nước phi liên bang. Các cấp NSNN đều có mối liên hệ hữu cơ gắn bó với nhau thông qua việc thực hiện nhiệm vụ thu chi. Trong hệ thống NSNN Việt Nam, NS TW đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược KT-XH trên phạm vi toàn quốc. Hoạt động thu chi của NS TW ảnh hưởng đến các mặt của đời sống kinh tế xã hội của đất nước.
NS các địa phương là công cụ tài chính quan trọng trong việc giúp chính quyền địa phương thực 6 hiện các chức năng kinh tế, xã hội, là công cụ giúp Nhà nước thực hiện giám sát đối với các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn địa phương quản lý. NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Luật NSNN năm 2002 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 và Luật NSNN năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 đã xác định "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [1],[4]. NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ.
Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm [1],[4]. * Thu NSNN Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần các nguồn tài chính quốc gia để hình thành quĩ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của chi tiêu của Nhà nước; “Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật” [1],[4]. Thu NSNN có hai đặc điểm sau: + Tính pháp lý và tính cưỡng chế rất cao: Một số khoản thu chủ yếu của NSNN như thuế, phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước đều là các khoản thu theo nghĩa vụ bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được qui định bằng các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như Hiến pháp, Pháp lệnh do Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua.
7 + Tính không hoàn trả trực tiếp: Việc nộp thuế và các khoản phải nộp theo nghĩa vụ khác không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp, mà họ được hưởng các lợi ích gián tiếp dưới hình thức các dịch vụ công do Nhà nước cung cấp. Giá trị hàng hoá dịch vụ mà họ hưởng không tương ứng với số thuế và các khoản phải nộp khác. * Chi NSNN Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quĩ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm phục vụ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng KT-XH mà Nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định; “Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật” [1],[4]. Quy trình quản lý NSNN ở Việt Nam Chu trình NSNN là quá trình từ khi hình thành NS cho tới khi kết thúc NS để chuyển sang NS mới.
Quá trình này bao gồm các khâu: lập dự toán, quyết định dự toán NS, chấp hành NS và quyết toán NS. * Hình thành NS Hình thành NS là quá trình bao gồm các công việc: Lập dự toán NS, phê chuẩn NS và thông báo NS. Trong quá trình hình thành NS, lập NS là công việc khởi đầu có ý nghĩa quan trọng đến toàn bộ các khâu của chu trình NS. Lập NS thực chất là dự toán các khoản thu, chi của NS trong một năm NS.
Việc dự toán thu, chi NS đúng đắn, hợp lý, có cơ sở khoa học, xuất phát từ thực tiễn có tác dụng tích cực tới kế hoạch phát triển KT-XH và việc thực hiện NS sau này. Thông qua việc lập dự toán NS, Nhà nước có thể thẩm tra và đánh giá lại toàn bộ các chỉ tiêu của kế hoạch KT-XH. Dự toán NSNN được lập căn cứ vào chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, về quản lý tài chính. Các khoản thu trong dự toán NS phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế và các quy định của pháp luật về thu NS.
8 Các khoản chi trong dự toán NS phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển KT-XH, QLNN, bảo đảm QP - QN. Đối với các khoản chi thường xuyên, việc lập dự toán còn phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Hiện nay có hai phương pháp lập dự toán NSNN chính là phương pháp truyền thống và phương pháp lập dự toán NS theo khuôn khổ tài chính trung hạn. Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng và khả năng áp dụng tuỳ thuộc vào những điều kiện nhất định của quốc gia.
- Lập dự toán NSNN theo phương pháp truyền thống: Lập dự toán NSNN theo phương pháp truyền thống thực chất là phương pháp lập dự toán cho từng năm riêng lẻ. Phương pháp này thường áp dụng cho các nước đang trong thời kỳ đang phát triển. Phương pháp lập dự toán theo phương pháp truyền thống được chia thành ba phương pháp đó là: Phương pháp lập dự toán NSNN theo trình tự tổng hợp dưới lên, phương pháp lập dự toán NSNN theo trình tự từ trên xuống và phương pháp lập dự toán NSNN kết hợp giữa phân bổ từ trên xuống và tổng hợp từ cơ sở. - Lập dự toán NSNN theo khuôn khổ tài chính trung hạn: Đối với phương pháp lập dự toán NSNN theo khuôn khổ tài chính trung hạn thực chất là việc lập dự toán cho khoảng thời gian trung hạn từ ba đến năm năm.
Quốc hội phê chuẩn NS cho từng năm nhưng NS này phải nằm trong khuôn khổ trung hạn. Quy trình lập dự toán NS theo phương pháp này theo nhiều bước lớn về cơ bản trình tự của phương pháp này giống như phương pháp kết hợp từ trên xuống với tổng hợp từ dưới lên nhưng có sự khác biệt lớn ở đây là sự phối kết hợp chặt chẽ giữa bộ tài chính và bộ kế hoạch đầu tư, các dự toán đều phải xem xét trong mối quan hệ và mục tiêu chiến lược trung hạn. Có thể chia làm năm bước lớn: + Bộ tài chính căn cứ vào chỉ tiêu, chính sách, kế hoạch kinh tế vĩ mô trung hạn sẽ phối kết hợp với Bộ kế hoạch đầu tư xây dựng khuôn khổ hạn 9 mức NS trung hạn sơ bộ. Sau khi hình thành xong khuôn khổ hạn mức NS trung hạn sơ bộ sẽ gửi xuống cho các địa phương, các bộ ngành xem xét.
+ Các bộ ngành địa phương tiến hành xem xét, đánh giá các mục tiêu chiến lược của địa phương, của bộ mình trong khuôn khổ trung hạn. Căn cứ vào khuôn khổ này các bộ ngành địa phương sẽ tiến hành xây dựng dự toán NS trung hạn của địa phương, bộ mình. Các địa phương sẽ đưa ra sắp xếp thứ tự theo các mục tiêu. Sau khi hình thành dự toán các bộ ngành, địa phương gửi lên Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư.
+ Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư tiến hành đàm phán về xây dựng NS chính thức. Kết thúc đàm phán đưa ra bản NS chính thức lại gửi trở lại các bộ ngành và địa phương. + Các bộ ngành địa phương dựa vào bản dự toán NS chính thức sẽ xây dựng dự toán chính thức NSNN trung hạn và dự toán NSNN hàng năm trình lên Quốc hội xem xét. + Quốc hội tiến hành xem xét và phê duyệt chính thức.
* Chấp hành NSNN Sau khi NS được phê chuẩn và năm NS được bắt đầu thì việc thực hiện NS được triển khai. Nội dung của quá trình này là tổ chức thu NSNN và bố trí cấp kinh phí NSNN cho các nhu cầu đã được phê chuẩn.