Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin, năng lực tự học của người học trở thành yêu cầu cốt lõi nhằm đáp ứng những biến đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, năng lực tự nghiên cứu của người học đã được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, đồng thời được thể chế hóa tại Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với yêu cầu phương pháp đào tạo cao đẳng, đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác, năng lực tự học và phát triển tư duy sáng tạo. Đối với khối các trường sư phạm, hoạt động tự học mang tính chất quyết định không chỉ đối với kết quả đào tạo của nhà trường mà còn tác động trực tiếp đến phẩm chất, năng lực của đội ngũ giáo viên tương lai, được thể hiện xuyên suốt qua Chỉ thị số 15 ngày 20/04/1999 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong các trường sư phạm.

Tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh – đơn vị đào tạo giáo viên trọng điểm khu vực phía Nam, nhà trường đã chính thức chuyển đổi từ hình thức đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ từ năm 2010. Phương thức đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải nâng cao tính tự chủ và năng lực tự học ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2013 do tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền chủ nhiệm ("Thực trạng kĩ năng tự học ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh") đã chỉ ra rằng sinh viên nhà trường vẫn còn nhiều lúng túng trong các thao tác tự học. Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Diễm Hương lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Thực trạng quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa cơ sở lí luận, tiến hành khảo sát thực trạng quản lí hoạt động tự học của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động này. Khóa luận xác lập và giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự học của sinh viên đại học.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Khách thể nghiên cứu được xác định là công tác quản lí hoạt động học tập của sinh viên đại học; đối tượng nghiên cứu là thực trạng quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Về giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận hoạt động tự học dưới góc độ dạng tự học diễn ra trong hoạt động dạy học, tập trung khảo sát công tác quản lý với chủ thể quản lí trực tiếp là giảng viên.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Tiến hành khảo sát tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2013–2014.
  • Mẫu khảo sát: Thu thập ý kiến của 240 sinh viên năm 2, năm 3, năm 4 thuộc 4 khoa (Toán - Tin học, Tiếng Anh, Lịch sử, Tâm lý - Giáo dục) và 40 cán bộ quản lý, giảng viên thuộc 9 khoa (Toán - Tin học, Tiếng Anh, Lịch sử, Tâm lý - Giáo dục, Sinh học, Địa lí, Vật lí, Giáo dục chính trị, Tiếng Trung).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc tiếp cận các quan điểm lý thuyết quản lý kinh điển và lý luận giáo dục học:

  • Khái niệm quản lý và các chức năng quản lý: Khóa luận tổng hợp quan điểm của Taylor, Henri Fayol, Karl Marx và Trần Thị Tuyết Mai, xác định quản lý là các tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể và đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích đề ra. Công tác quản lý vận hành qua 4 chức năng cốt lõi: Kế hoạch hóa (xác định mục tiêu, biện pháp và huy động nguồn lực); Tổ chức (định hình cơ cấu, phân công lao động theo quy trình 5 bước của Ernest Dale); Chỉ đạo (kết hợp giữa điều hành - Directing và lãnh đạo - Leading); Kiểm tra (thiết lập mối liên hệ ngược qua 3 bước: xây dựng tiêu chuẩn, đo lường kết quả và điều chỉnh sai lệch).
  • Quản lý giáo dục và quản lý trường học: Khóa luận tiếp thu định nghĩa của M. Mechti-zade, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc và Trần Kiểm, định vị quản lý trường học là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến toàn bộ các lực lượng, hoạt động dạy học và cơ sở vật chất nhằm hiện thực hóa mục tiêu đào tạo.
  • Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học: Dựa trên quan điểm của Lưu Xuân Mới và Phan Trọng Ngọ, dạy học được định nghĩa là hoạt động kép, trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển nhận thức) và hoạt động học giữ vai trò tự giác, tích cực (chiếm lĩnh tri thức). Quản lý dạy học tập trung vào hoạt động dạy của giảng viên để gián tiếp điều khiển hoạt động học của sinh viên.
  • Hoạt động tự học và các dạng tự học: Khóa luận đồng thuận với phân loại 4 dạng tự học của Võ Quang Phúc: (1) Tự học mò mẫm; (2) Tự học bậc cao; (3) Tự học có sự hướng dẫn từ xa; (4) Tự học trong hoạt động dạy học (có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên trên lớp hoặc ngoài lớp – đây là dạng tự học được khóa luận tập trung nghiên cứu). Hoạt động tự học được định nghĩa theo Nguyễn Thị Bích Hạnh (2012): là một bộ phận của hoạt động học mà người học huy động tối đa tiềm năng, trí tuệ, tình cảm và ý chí để chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy.
  • Cấu trúc hệ thống kĩ năng tự học: Bao gồm 3 nhóm: Nhóm kĩ năng định hướng (tiếp nhận/phát hiện nội dung tự học, lập kế hoạch tự học); Nhóm kĩ năng thực hiện (kĩ năng đọc sách với 4 kiểu đọc và 5 hình thức ghi chép; kĩ năng tìm kiếm thông tin Internet với các toán tử logic; kĩ năng giải bài tập nhận thức; kĩ năng ôn tập tái hiện bài giảng); Nhóm kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá.
  • Chủ thể và nội dung quản lý hoạt động tự học: Khóa luận phân định chủ thể quản lý gián tiếp (Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên, Phòng Quản trị thiết bị) và chủ thể quản lý trực tiếp (Giảng viên, Cố vấn học tập). Nội dung quản lý trực tiếp của giảng viên bao gồm 6 thành tố: Quản lý mục tiêu; Quản lý kế hoạch; Quản lý nội dung; Quản lý kĩ năng; Kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học; Quản lý các điều kiện hỗ trợ tự học (trường sở, phương tiện, thư viện).

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp các quan điểm tiếp cận và công cụ thực chứng:

  • Quan điểm phương pháp luận: Quán triệt quan điểm hệ thống - cấu trúc, quan điểm thực tiễn và quan điểm lịch sử - logic.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu khoa học chuyên ngành.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra giáo dục: Xây dựng 2 bộ phiếu hỏi đóng/mở dành riêng cho cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên nhằm thu thập dữ liệu về nhận thức, thực trạng tự học và thực trạng công tác quản lý.
    • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu một số giảng viên và sinh viên đại diện cho 4 khối ngành của trường về những khó khăn, thuận lợi trong công tác quản lý.
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và tính toán định lượng (điểm trung bình, độ lệch chuẩn) bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 20.0.

Nguồn dữ liệu của đề tài là dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ 240 sinh viên và 40 cán bộ quản lý, giảng viên tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2013–2014.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự học của sinh viên đại học

Chương 1 thiết lập khung lý luận đồng bộ cho toàn bộ khóa luận qua việc phân tích lịch sử nghiên cứu, hệ thống khái niệm và các cấu trúc bản chất của quản lý hoạt động tự học:

  • Tổng quan lịch sử vấn đề: Tác giả điểm lại các tư tưởng giáo dục thế giới từ thời cổ đại (Khổng Tử với phương pháp gợi mở), cận đại (J. Comenxki với quan điểm giáo viên dạy ít hơn - học sinh học nhiều hơn; T. Makiguchi về đặt trách nhiệm học tập vào tay người học; N. Rubakin; G. Retzke; Lubixơna về tổ chức công việc tự học). Tại Việt Nam, vấn đề tự học phát triển mạnh từ khi thành lập Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Tự học (1997) và Tạp chí Tự học (1999), với các nghiên cứu nền tảng của Nguyễn Cảnh Toản, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường. Bên cạnh đó, tác giả phân tích các luận văn, đề tài chuyên ngành Quản lý giáo dục của Nguyễn Bá Khương (tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông), Nguyễn Thị Bích Hạnh (khảo sát kĩ năng tự học môn Giáo dục học tại 3 trường sư phạm), Dương Thị Thu Thủy (tại Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng) và Nguyễn Thị Thu Huyền (tại Đại học Sư phạm TP.HCM). Khóa luận rút ra kết luận: Các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào kĩ năng tự học của người học, mảng nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM vẫn chưa có công trình chuyên biệt thực hiện.
  • Lý luận về hoạt động tự học: Khóa luận phân tích cấu trúc hoạt động tự học của sinh viên đại học (chủ thể là sinh viên; đối tượng là hệ thống tri thức, kĩ năng nghề nghiệp; mục tiêu là phát triển nhân cách và năng lực hành động; nội dung gồm tự học cơ bản/thường xuyên và tự học mở rộng/nâng cao). Hệ thống kĩ năng tự học được phân rã chi tiết: kĩ năng đọc sách gắn với 4 kiểu đọc (đọc lướt qua, đọc có trọng điểm, đọc toàn bộ không nghiên ngẫm kĩ, đọc nghiên ngẫm) và 5 dạng ghi chép (ghi đề cương, trích dẫn, luận đề, tóm tắt, tự do); kĩ năng tra cứu Internet (sử dụng từ khóa, toán tử AND, OR, NOT, công cụ hỗ trợ tải); kĩ năng giải bài tập nhận thức (củng cố, mở rộng, lĩnh hội tri thức mới, sáng tạo); kĩ năng ôn tập (dựng lại bài giảng bằng ngôn ngữ cá nhân).
  • Các yếu tố ảnh hưởng và khung quản lý: Xác định 5 nhóm yếu tố tác động: người học (động cơ, hứng thú, vốn kiến thức), giảng viên (phương pháp dạy, năng lực sư phạm), nội dung môn học, phương tiện - hình thức dạy học, và môi trường học tập. Từ đó, xây dựng khung quản lý của giảng viên bao gồm 6 trục nội dung: quản lý mục tiêu, quản lý kế hoạch, quản lý nội dung, quản lý kĩ năng, kiểm tra đánh giá, và quản lý các điều kiện hỗ trợ cơ sở vật chất, thư viện.

Chương 2. Thực trạng quản lí hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực chứng, phân tích thực trạng và kiểm định giả thuyết khoa học thông qua hệ thống bảng số liệu thống kê SPSS (từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.17 trong văn bản):

  • Khái quát đơn vị và mẫu nghiên cứu: Khái quát đặc điểm phát triển, đội ngũ giảng viên, quy mô và cơ sở vật chất của Trường Đại học Sư phạm TP.HCM; mô tả mẫu khảo sát gồm 240 sinh viên và 40 cán bộ quản lý, giảng viên (Bảng 2.1 và 2.2).
  • Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên: Khóa luận đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên và cán bộ quản lý về khái niệm và vai trò của tự học (Bảng 2.3 và Bảng 2.4). Tiếp đó, phân tích chi tiết mức độ thực hiện các thành tố tự học của sinh viên: thực trạng xác định mục tiêu tự học (Bảng 2.5), việc lập và thực hiện kế hoạch tự học (Bảng 2.6), nội dung tự học (Bảng 2.7), mức độ thành thạo các kĩ năng tự học (Bảng 2.8) và kết quả tự học đạt được (Bảng 2.9). Dữ liệu phản ánh sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của tự học nhưng việc lập kế hoạch và kĩ năng thực hành tự học vẫn còn hạn chế nhất định.
  • Thực trạng quản lý hoạt động tự học của giảng viên: Đo lường thực trạng can thiệp sư phạm của giảng viên đối với 6 nội dung quản lý:
    • Quản lý mục tiêu tự học của sinh viên (Bảng 2.10).
    • Quản lý kế hoạch tự học (Bảng 2.11).
    • Quản lý nội dung tự học (Bảng 2.12).
    • Mức độ giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tự học (Bảng 2.13).
    • Quản lý kĩ năng tự học của sinh viên (Bảng 2.14).
    • Hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học (Bảng 2.15).
    • Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động tự học (Bảng 2.16).
  • Phân tích nguyên nhân và đề xuất biện pháp: Khóa luận tổng hợp các yếu tố thuận lợi (Bảng 2.17) và khó khăn tác động đến công tác quản lý. Trên cơ sở đó, tác giả xác định các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý và đưa ra hệ thống biện pháp tác động đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tự học của giảng viên.

Hệ thống bảng dữ liệu khảo sát trong công trình được tổng hợp như sau:

STT Ký hiệu bảng Tên bảng dữ liệu trong văn bản Trang
1 Bảng 2.1 Mô tả mẫu khảo sát sinh viên 48
2 Bảng 2.2 Mô tả mẫu khảo sát cán bộ quản lý và giảng viên 49
3 Bảng 2.3 Nhận thức về khái niệm hoạt động tự học 50
4 Bảng 2.4 Nhận thức về vai trò của hoạt động tự học 52
5 Bảng 2.5 Thực trạng mục tiêu tự học của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 53
6 Bảng 2.6 Thực trạng kế hoạch tự học của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 54
7 Bảng 2.7 Thực trạng nội dung tự học của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 56
8 Bảng 2.8 Thực trạng kĩ năng tự học của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 57
9 Bảng 2.9 Kết quả tự học của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 59
10 Bảng 2.10 Thực trạng quản lí mục tiêu tự học của sinh viên 60
11 Bảng 2.11 Thực trạng quản lí kế hoạch tự học của sinh viên Trường ĐHSP TP.HCM 62
12 Bảng 2.12 Thực trạng quản lí nội dung tự học của sinh viên 65
13 Bảng 2.13 Thực trạng giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tự học 67
14 Bảng 2.14 Thực trạng quản lí kĩ năng tự học của sinh viên 69
15 Bảng 2.15 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của sinh viên 72
16 Bảng 2.16 Thực trạng quản lí các điều kiện hỗ trợ hoạt động tự học của sinh viên 73
17 Bảng 2.17 Yếu tố thuận lợi ảnh hưởng đến thực trạng quản lí HĐTH của SV 75
18 Bảng 2.18 Yếu tố khó khăn ảnh hưởng đến thực trạng quản lí HĐTH của SV 76

Kết quả và đóng góp

Khóa luận làm rõ các kết quả thực tiễn và kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu ban đầu:

  • Minh chứng giả thuyết khoa học: Công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã bước đầu được triển khai lồng ghép trong hoạt động dạy học. Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên chưa có nhận thức đầy đủ và toàn diện về công tác này. Các nội dung quản lý hoạt động tự học chưa được thực hiện thường xuyên ở mức độ cao, sự phối hợp giữa các lực lượng còn rời rạc và hiệu quả thực hiện chưa đồng đều.
  • Nhận diện thực trạng tự học của sinh viên: Kết quả khảo sát củng cố phát hiện từ đề tài năm 2013 của Nguyễn Thị Thu Huyền, xác nhận sinh viên các khoa Sư phạm Toán - Tin học, Tiếng Anh, Lịch sử, Tâm lý - Giáo dục còn gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch tự học chi tiết theo tuần/tháng và chưa làm chủ đầy đủ các kĩ năng đọc sách chuyên sâu, kĩ năng tra cứu dữ liệu khoa học.
  • Xác lập hệ thống biện pháp quản lý: Khóa luận đề xuất hệ thống biện pháp quản lý dành cho giảng viên và nhà trường dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính mục đích, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính khả thi:
    • Tăng cường định hướng mục tiêu và kế hoạch tự học cho sinh viên ngay từ khi công bố đề cương chi tiết học phần.
    • Đổi mới phương pháp giảng dạy trên lớp theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, giảm tải thuyết trình một chiều, giao nhiệm vụ tự học có tính nghiên cứu và giải quyết vấn đề.
    • Hướng dẫn quy trình và kĩ thuật rèn luyện kĩ năng tự học (đặc biệt là phương pháp đọc sách, ghi chép và khai thác tư liệu).
    • Cải tiến hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học, kết hợp giữa đánh giá của giảng viên với tự đánh giá và đánh giá chéo giữa các sinh viên.
    • Phối hợp giữa giảng viên với cố vấn học tập, Đoàn - Hội, Phòng Đào tạo, Thư viện và Phòng Quản trị thiết bị nhằm tối ưu hóa điều kiện cơ sở vật chất phục vụ tự học.
  • Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn: Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu trực diện và toàn diện về thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM trong bối cảnh học chế tín chỉ. Đề tài hệ thống hóa thành công khung lý luận 6 nội dung quản lý tự học của giảng viên, cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng có độ tin cậy được xử lý qua phần mềm SPSS 20.0.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ theo giới hạn nghiên cứu được công bố trong văn bản:

  • Hạn chế về phạm vi tiếp cận: Đề tài chỉ tập trung khảo sát dạng tự học diễn ra trong hoạt động dạy học (gắn liền với môn học), chưa nghiên cứu sâu các dạng tự học ngoài chương trình đào tạo hoặc hoạt động tự nghiên cứu khoa học độc lập của sinh viên.
  • Hạn chế về chủ thể khảo sát: Đề tài tập trung phân tích chủ thể quản lý trực tiếp là giảng viên; vai trò quản lý của các chủ thể gián tiếp (Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Quản trị thiết bị, Cố vấn học tập) chỉ mới được đề cập ở góc độ phối hợp lý luận.
  • Hạn chế về quy mô mẫu và thời gian: Mẫu khảo sát sinh viên giới hạn ở 240 sinh viên thuộc 4 khoa và 40 cán bộ/giảng viên tại 9 khoa trong năm học 2013–2014, chưa bao quát toàn bộ các ngành đào tạo của nhà trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn bộ các khoa thuộc Trường Đại học Sư phạm TP.HCM; tiến hành nghiên cứu sâu cơ chế quản lý tự học của hệ thống Cố vấn học tập và các phòng ban chức năng; thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả của các biện pháp quản lý đã đề xuất.

Giá trị tham khảo

Công trình mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng học thuật và quản lý:

  • Đối với sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học, Tâm lý học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu quản lý giáo dục cấp cơ sở, quy trình xây dựng công cụ khảo sát (phiếu hỏi, phiếu phỏng vấn) và kĩ thuật xử lý số liệu điều tra bằng SPSS.
  • Đối với giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Cung cấp khung tham chiếu 6 nội dung quản lý hoạt động tự học (mục tiêu, kế hoạch, nội dung, kĩ năng, kiểm tra đánh giá, điều kiện hỗ trợ), giúp giảng viên chuyển đổi phương pháp dạy học phù hợp với đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
  • Đối với cán bộ quản lý trường đại học: Cung cấp cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp thư viện, hoàn thiện quy chế kiểm tra đánh giá và tăng cường cơ chế phối hợp giữa các phòng ban chức năng trong nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận hoạt động tự học theo định nghĩa nào và tập trung vào dạng tự học nào?

Khóa luận tiếp cận định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2012): hoạt động tự học là một bộ phận của học mà ở đó người học huy động ở mức cao nhất tiềm năng, trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội tri thức, kĩ năng và rèn luyện nhân cách dưới sự hướng dẫn của người dạy. Về phân loại, khóa luận chọn dạng "tự học trong hoạt động dạy học" (theo phân loại 4 dạng tự học của Võ Quang Phúc), tức dạng tự học diễn ra trong nhà trường có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên trên lớp hoặc ngoài lớp.

2. Chủ thể quản lý hoạt động tự học trong trường đại học được phân cấp ra sao?

Khóa luận phân định thành hai nhóm chủ thể:

  • Chủ thể quản lý gián tiếp: Ban Giám hiệu (chỉ đạo chung, ban hành chỉ thị, kế hoạch); Phòng Đào tạo (tham mưu kế hoạch đào tạo toàn khóa, điều hành tiến độ, làm cầu nối); Phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên (nắm bắt tư tưởng, tổ chức phong trào văn hóa chính trị); Phòng Quản trị thiết bị (đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện); và các đơn vị hỗ trợ khác.
  • Chủ thể quản lý trực tiếp: Giảng viên trực tiếp giảng dạy môn học (giao nhiệm vụ, gợi ý tài nguyên, đôn đốc, kiểm tra đánh giá) và Cố vấn học tập (hướng dẫn lập kế hoạch học tập toàn khóa, tư vấn đăng ký học phần). Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng với chủ thể quản lý trực tiếp là giảng viên.

3. Hệ thống kĩ năng tự học của sinh viên được phân chia thành những nhóm cụ thể nào?

Khóa luận hệ thống hóa thành 3 nhóm kĩ năng:

  • Nhóm kĩ năng định hướng: Kĩ năng tiếp nhận và phát hiện nội dung tự học; Kĩ năng lập kế hoạch tự học.
  • Nhóm kĩ năng thực hiện: Kĩ năng đọc sách (gồm 4 kiểu đọc và 5 cách ghi chép); Kĩ năng tìm kiếm thông tin từ Internet (xác định mục đích, sử dụng từ khóa và toán tử logic); Kĩ năng giải bài tập nhận thức (4 dạng bài tập); Kĩ năng ôn tập (tái hiện bài giảng bằng ngôn ngữ cá nhân).
  • Nhóm kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá: Sử dụng thang đo mức độ, tự đối chiếu với mục tiêu đặt ra và tiếp thu nhận xét từ tập thể.

4. Mẫu khảo sát và công cụ xử lý dữ liệu thực trạng được triển khai như thế nào?

Khảo sát thực hiện trong năm học 2013–2014 tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM với mẫu định lượng gồm 240 sinh viên năm 2, 3, 4 thuộc 4 khoa (Toán - Tin học, Tiếng Anh, Lịch sử, Tâm lý - Giáo dục) và 40 cán bộ quản lý, giảng viên thuộc 9 khoa chuyên môn. Công cụ thu thập dữ liệu gồm 2 bộ phiếu hỏi và dàn ý phỏng vấn sâu. Dữ liệu khảo sát được nhập và xử lý thống kê toán học (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn) bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 20.0.

5. Nội dung quản lý hoạt động tự học của giảng viên bao gồm những thành tố nào?

Khung quản lý trực tiếp của giảng viên gồm 6 nội dung: (1) Quản lý mục tiêu tự học (cụ thể hóa mục tiêu môn học, phổ biến đến sinh viên); (2) Quản lý kế hoạch tự học (hướng dẫn, giám sát sinh viên lập kế hoạch theo tuần, tháng, học kỳ); (3) Quản lý nội dung tự học (xây dựng đề cương môn học, phân định nhiệm vụ bắt buộc và mở rộng); (4) Quản lý kĩ năng tự học (hướng dẫn tri thức kĩ năng và các thao tác nghe, đọc, ghi chép, tra cứu); (5) Kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học (thông báo tiêu chí, đổi mới hình thức đánh giá, kết hợp tự đánh giá); (6) Quản lý các điều kiện hỗ trợ tự học (khai thác giảng đường, thiết bị dạy học và thư viện).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Diễm Hương là một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, chặt chẽ về mặt phương pháp luận trong chuyên ngành Quản lý giáo dục. Bằng việc kết hợp hệ thống lý luận quản lý dạy học với dữ liệu khảo sát thực chứng được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 trên mẫu 240 sinh viên và 40 cán bộ, giảng viên, đề tài đã làm rõ thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động tự học tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn chuyển đổi sang học chế tín chỉ. Các kết quả đánh giá thực trạng và hệ thống biện pháp quản lý do tác giả đề xuất cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị ứng dụng cao cho giảng viên và cán bộ quản lý trong việc nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm.