Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VE QUAN LÍ HOAT DONG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu van dé LLL. Lịch sử nghiên cứu vẫn dé tự học của người học trên thể giới Tự học là một van dé luôn nhận được sự quan tâm của những người làm công tác giáo dục ở mọi thời dai, mọi nơi trên the giới bởi nó là một trong những vẫn đẻ cốt lõi của giáo dục, tất cả vì sự phát triển của con người.
Ngay từ thời cô đại, Không Tử (551 - 479 TCN) từng đôi hỏi học trò của mình phải tích cực suy nghĩ: “Không giận vì muon biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bảy vẽ cho. Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thi không dạy nữa” [2]. Cách dạy học của ông là cung cấp điều cơ bản và gợi mở dé học trỏ tự mình tìm ra phan lớn tri thức. Nhà sư phạm vi đại J.
Comenxki (1592 - 1670) cho rang: giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách. hãy tim ra phương pháp cho giáo viên day ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Theo ông, “day học lay người hoc lam trung tâm” sẽ phát huy cao độ tính tích cực hoạt động học tập của người học dưới sự giúp đỡ của người thay giáo để người học tự tìm toi, suy nghĩ, tự nằm bat bản chất của sự vật hiện tượng” [2]. Những năm 30 của thé ki 20, T.Makiguchi - nha sư phạm nỗi tiếng người Nhật cho rang: mục tiêu của giáo dục là hưởng dẫn quả trình học tập va đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh.
Giáo dục như là một quả trình hướng dẫn học sinh tự học mả động lực của nỏ là kích thích người học sang tạo ra giá trị dé đạt tới hạnh phúc của bản than va cộng đồng [31].Rubakin đã nêu những cơ sở của việc tự học trong cuỗn "Tự học như thể nào”, ông cho răng người học sẽ có hứng thú với việc học khi nó mang lại một cai mới mẻ, thiết thực cho cuộc sống của người học, đồng thời ông kêu gọi người học phải tin vào sức mạnh va khả năng của bản thân, phải nỗ lực hết khả năng dé học một cách thường xuyên vả có hệ thông [23]. Một nghiên cứu khác về HĐTH can được quan tâm là sách “Học tập hợp lí" do G.Retzke chủ biên. Ông xem việc học tập ở đại học là một quá trình phát triển con người, không ai làm thay được người học trong các hoạt động của bản thân họ va nhân mạnh “Tiếp thu và tích lũy hiểu biết - một nhiệm vụ của tự học” [10].Lubixơna đã khai quát công việc tự học của SV đại học trong quyển sách “Tô chức công việc tự học của SV đại học” gồm: nghe va ghi bai, đọc va ghi tải liệu, chuân bị Xêmina, thi, kiểm tra, tổ chức lao động tri óc va kế hoạch làm việc nhằm hướng dẫn SV tự học tốt hon [1]. Những tư tưởng, quan niệm về phạm tri tự học của các nhà giáo dục tiễn bai đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển giáo dục ở hiện tại vả tương lai, gợi ra một hướng đi đúng dan khi nghiên cứu về HPTH của người học.
Lịch sử nghiên cứu van dé tự học và quản lí hoạt động tự học của sinh viên ở Việt Nam Tại Việt Nam, nghiên cứu van dé tự học đã trải qua giai đoạn phat triển nghiêm túc cả vẻ lí luận lẫn thực tiễn, Van dé tự học thực sự được quan tâm khi Trung tâm nghiên cửu phát triển tự học ra đời vào tháng 5/1997 và cho ra mắt tạp chi “Tự học” từ năm 1999. Tạp chi “Ty học” là nơi công bổ các kết quả nghiên cứu, là diễn dan trao đổi, phô biến kinh nghiệm tự học va phương pháp tự học. Trong 2 quyên sách “Tự học, tự đảo tạo-tư tưởng chiến lược của phat trién giáo dục Việt Nam, “Luận bản va kinh nghiệm về tự học” đo tác giả Nguyễn Cảnh Toản chủ biến, các tác giả đã quan niệm tự học gan với quan niệm tự đảo tạo, tự học thưởng xuyên suốt đời của mỗi con người với những nội dung cơ bản: sự học là gì, phương châm học, các yếu tô, mâu thuẫn, trở lực, điều kiện, phương tiện của việc tự học [29], [301. Các tac giả Nguyễn Cảnh Toản, Nguyễn Ky, Vũ Văn Tao, Bui Tường đã luận giải van dé thay day, trỏ tự học một cách cụ thé trong quyên sách “Qua trình dạy-tự học” với các nội dung: mỏ hình, chu trình, quy trình day-tu học, hệ phương pháp day-hoc tích cực lay người học làm trung tâm,.
Song hành với sự phát triển về mặt lí luận tự học, công tác quản lí HĐTH của SV trong nhà trường ngày càng được chú trọng va dan dân hoan thiện vẻ mặt lí luận. Tuy nhiên, việc nghiên cứu công tác quản li HDTH chưa được phô biên rộng rai, chủ yêu tập trung vào các công trình nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận án thạc sĩ, tiễn sĩ chuyên ngành Quản li giảo dục, Giáo dục học tại một số trường đại học, cao đăng trên cả nước. Một số công trình nghiên cứu khoa học, luận van như: - Luận văn Thạc sĩ ngành Quản li giáo dục: “Biện pháp quản lí HĐTH của SV tại Học viện Công nghệ Bưu chỉnh Viễn thông trong dao tạo theo tin chi” của tác giả Nguyễn Bá Khương. Trong phạm vi dé tai, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lí luận về van dé tự học va quan li HDTH của SV tại Học viện Công nghệ Bưu chỉnh Viễn thông trong dao tạo theo tin chi, dong thời tiễn hành khảo sát, phan tích và danh gia thực trạng quản lí HDTH của SV tại Học viện.
Từ đó, dé xuất một số biện pháp quản lí HDTH nham nâng cao hiệu quả học tập của SV Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong qua trình dao tạo theo phương thức tin chỉ [ 17]. , - Kết quả công trình nghiên cứu: “Thue trang kĩ năng tự học của SV Su phạm” do tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh làm chủ nhiệm dé tài đã làm rõ thực trạng kĩ nang tự học món Giáo dục học của SV Su phạm tại 03 trường (Trưởng Đại học Sư Phạm Huẻ: Trường ĐHSP TP.HCM; Trường Đại học Cân Thơ): SV sư phạm chưa có động cơ, hứng thú học tập môn Giáo dục học vi họ chưa nhận thức rõ rang về mục đích học tập mon Gido dục học; SV su phạm chưa chủ động, tự giác, tích cực học tập môn Giáo dục học; Ki nang tự học môn Giáo dục học chỉ đạt ở mức trung bình kha. Bên cạnh đó, dé tải còn xác định được 2 yếu tổ có sức ảnh hưởng lớn đến kĩ năng tự học môn Giáo dục học của SV sư phạm là yếu tô giáo viên va yếu tổ người học [12]. - Bài báo khoa học “Các biện pháp quản lí nhằm tăng cường HĐTH của SV Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Năng” của tác giả Dương Thị Thu Thuy đã công bố những thông tin dang quan tâm: thứ nhất, HĐTH cua SV tại trường còn theo kiểu thụ động: thứ hai, mặc dù công tác quản li HĐTH được triển khai đây đủ, một số nội dung được thực hiện thường xuyên và có chất lượng (công tác xây dựng động cơ tự học cho SV; công tac quản lí nội dung tự học đã được triển khai; công tác kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của SV đã được nhiều GV thực hiện) nhưng tan số và chất lượng thực hiện các hoạt động quản li nhằm tăng cường HĐTH của SV chưa đồng đều.
Công tác quản li cơ sở vat chất, trang thiết bị, phương tiện kĩ thuật chưa chú ý đến việc nang cao hiệu quả tự học của SV [27]. - Dé tải nghiên cứu khoa học va công nghệ cap cơ sở: "Thực trạng ki năng tự học ngoài lớp học của SV chỉnh quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM” do tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền làm chủ nhiệm để tải [14] phản anh thực trạng kĩ năng tự học ngoai lop học của SV chính quy su phạm tại trường chưa tốt, SV còn ling ting trong việc thực hành các kĩ nang can thiết cho HĐTH trong khi cơ chế đảo tạo theo tin chi rat chú trọng đến HĐTH của SV, phát huy tỗi đa tính tích cực của người học. Tóm lại, có nhiều công trình chuyên khảo, đẻ tải nghiên cửu vẫn dé tự học của SV đại học ở Việt Nam với nhiều khia cạnh khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu vẻ quản lí HĐTH của SV chưa được quan tâm đúng mức và đến 10 nay, vẫn chưa có dé tai nao nghiên cứu về quản lí HDTH của SV Trường ĐHSP TP.
Một số khái niệm cơ bản 124. Quản ir Theo Tự điển Tiếng Việt do trung tâm từ điền ngôn ngữ Hà Nội xuất bản 1992, quản lí có nghĩa 1a trông coi va gìn giữ theo những yêu câu nhất định, tô chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cau nhất định.Taylor cho rằng: quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, va sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thanh công việc một cách tốt nhật và rẻ nhất. Tác giả Henry Fayol quan niệm quản lí nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra [18]. Theo Các Mác: mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung có quy mô tương đối lớn hoặc nhiều, hoặc ít điều can có sự chỉ huy nhằm điều hòa hoạt động của các cá nhân và thực hiện các chức nang nói chung, sinh ra trong vận động tong thé của sản xuất khác với sự vận động của một công cụ độc lập [18].
Theo tác giả Tran Thị Tuyết Mai: “Một cách khải quát, quản li có thé được hiểu là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến đổi tượng quản lí trong một tổ chức nhằm lam cho tô chức dé vận hành và đạt được những mục đích của tô chức. Các định nghĩa nêu trên đã cho chúng ta một cai nhìn tong thé vẻ khái niệm quản li. Tuy có sự khác nhau vẻ thuật ngữ, cách diễn đạt nhưng khái niệm quản lí có thé hiểu: Quản Ii la những tác động có định hướng, cỏ 16 chức của chủ thé quản li lên khách thể và đổi tượng quan li thông qua việc thực hiện một cách sảng tạo các chức năng quản li nhằm đạt được những mục đích nhất định. Các chức nang quản lí Chức năng quản lí là hình thức tôn tại của các tác động quản lí, là hình thức biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thé quan lí đến đối tượng quan lí.