Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ● Nghiên cứu về học trong quan hệ với dạy. Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc cũng đã quan tâm nghiên cứu hoạt động học trong quan hệ với hoạt động dạy, đặc biệt nhấn mạnh tính tích cực, độc lập của người học. Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) là người rất coi trọng tính tích cực nhận thức của học sinh.
Theo ông, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [Lịch sử giáo dục thế giới, 47, tr. - Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự vật và hiện tượng.
- Các nhà giáo dục ở thế kỉ XVIII và XIX như Pextalodi (1746-1827), Disterverg (1790-1886), Usinxki (1824-1870). đã nhấn mạnh cách làm cho người học giành lấy kiến thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi. Những tư tưởng về vấn đề học trong quan hệ với hoạt động dạy của các nhà giáo dục tiền bối đến nay vẫn còn giá trị, đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền giáo dục hiện đại, gợi ra một hướng đi đúng đắn khi nghiên cứu về hoạt động học của người học, đặc biệt là học ngoài giờ lên lớp. - Các nhà giáo dục hiện đại đã đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục và tiếp tục khẳng định vai trò của hoạt động học trong quan hệ với hoạt động dạy, tìm kiếm những cách thức để nâng cao hiệu quả, chất lượng học ở người học dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học.
Bàn về các phương pháp học tập H. Rubakin đã trình bày trong cuốn “Tự học như thế nào”: sẽ có hứng thú với việc học khi nó mang lại một cái gì mới mẻ, thiết thực cho cuộc sống của bạn; phải tin vào sức mạnh và khả năng của mình và phải nỗ lực hết khả năng để học một cách thường xuyên và có hệ thống [45] M.Luconhin chỉ ra những phương pháp học cần thiết đảm bảo cho người học đạt kết quả cao. Trong đó các tác giả rất coi trọng phương pháp đọc sách, coi đó là phương pháp quan trọng nhất của hoạt động học ngoài giờ lên lớp. Các khía cạnh của học (đọc sách), cũng được các tác giả L.Doborop bàn đến trong tác phẩm “Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách” và A.Primacopxki với cuốn “Phương pháp đọc sách”; N.Rubakin bàn đến trong cuốn “Tự học như thế nào”: đọc sách phải đào sâu suy nghĩ, phải hiểu, phải kiểm tra lại (ngẫm nghĩ những điều trong sách, đưa nó vào trong cuộc sống, kiểm tra chúng.
phải so sánh, phân loại, tổng hợp để những kiến thức đọc được không lẫn lộn như một mớ bòng bong. Tác giả cũng nêu trình tự đọc sách: đọc tựa đề – mục lục - đọc toàn bộ sách - đọc sâu (nghiên cứu); đọc phải trả lời các câu hỏi: cái gì là chính, cái gì là phụ? có phải bao giờ sự kiện ấy cũng xảy ra như thế không? làm thế nào thay đổi sự kiện ấy?.51] Hai nhà giáo dục Ấn Độ S.Sharma và Shakti R.Ahmed, trong tác phẩm “Phương pháp dạy học ở trường đại học” đã trình bày hoạt động học ngoài giờ lên lớp như một hình thức dạy học có hiệu quả. - Các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ [14], Nguyễn Cảnh Toàn [48; 49; 50], Trịnh Quang Từ [52], Nguyễn Kì [20; 21], Nguyễn Ngọc Bảo và Hà Thị Đức [2], Võ Quang Phúc [38],. đã có nhiều công trình nghiên cứu về học ngoài giờ lên lớp.
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đề cập đến nhiều lĩnh vực liên hệ đến hình thức học này, từ khái niệm, các hình thức học, phương pháp học cho đến các biện pháp sư phạm của người dạy nhằm nâng cao chất lượng hoạt động học ngoài giờ lên lớp. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học ngoài lớp cũng được các tác giả nghiên cứu trong công trình như động cơ, mục đích học tập, hứng thú học tập bộ môn,. hay những nguyên nhân khách quan như tài liệu tham khảo, việc tổ chức thi cử. Nhìn chung các tác giả trong và ngoài nước đều xem học và học ngoài giờ lên lớp như là bộ phận của hoạt động dạy học, một thành phần không thể thiếu được của quá trình dạy học, mà đỉnh cao của học là tự tìm tòi, tự khám phá.
● Nghiên cứu về quản lý hoạt động học ngoài giờ lên lớp cũng được bàn đến trong đề tài : “Quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn Thạc sĩ của Lê Khắc Mỹ Phượng) [40]; “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trường sĩ quan lục quân 2” (Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của Trần Bá Khiêm) [19]; “Thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động tự học của học sinh THPT, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ” (Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của Lê Thị Thanh Tú) [51]. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến việc quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên trong quan hệ với hoạt động dạy, mà cụ thể là phương pháp dạy học; đến các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng để nâng cao năng lực tự học của học sinh; hoặc các biện pháp nặng về mặt hành chính trong việc quản lý hoạt động tự học của học viên. Hoạt động học ngoài lớp của sinh viên 1. Khái niệm hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên Trong cuộc sống thường ngày, từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, lúc nào con người cũng học được một cái gì đó – học trong cuộc sống.
Cách học này chỉ đưa lại cho con người những tri thức tiền khoa học. Song thực tiễn đòi hỏi con người phải có những tri thức khoa học thực sự, năng lực thực tiễn mới thì phương thức học trong cuộc sống trở nên bất lực không đáp ứng được. Một phương thức đặc thù (phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành một hoạt động đặc biệt, gọi là hoạt động học. Vậy, “học” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức hàng ngày, còn “hoạt động học” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức đặc thù nhằm lĩnh hội những hiểu biết mới, kỹ năng, kỹ xảo mới.
Trong luận văn này, chúng tôi nói đến hoạt động học. Hoạt động học là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm của nhân loại dưới ảnh hưởng của những tác động dạy. - Động cơ học tập của sinh viên rõ ràng và mãnh liệt vì gắn với động cơ nghề nghiệp, động cơ thành đạt. - Mục đích học tập của sinh viên cũng cụ thể, rõ ràng, rộng hơn và luôn gắn với nghề nghiệp.
Việc chuyển hóa giữa mục đích và phương tiện học tập trong quá trình học tập diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. - Các hành động học tập của sinh viên mang tính chất học tập, vừa mang tính chất nghiên cứu khoa học vừa sức. - Các phương tiện và điều kiện học tập của sinh viên rộng và phong phú. Sinh viên huy động tất cả các nguồn lực trong tay và gần trong tầm tay phục vụ cho việc học tập và lập nghiệp.
Từ những phân tích ở trên, theo chúng tôi hiểu hoạt động học tập của sinh viên là quá trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và giá trị nghề nghiệp dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và đạo đức nghề của sinh viên diễn ra ở trên lớp có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên và còn diễn ra ở ngoài lớp có sự hướng dẫn gián tiếp của giảng viên. Hoạt động học tập diễn ra ở ngoài lớp là sự tiếp nối việc học ở trên lớp mà không có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên vì sự hướng dẫn được diễn ra trước đó. Học tập ở ngoài lớp cũng có cấu trúc của hoạt động học như động cơ học, mục đích và nhiệm vụ học tập, các hành động học, các phương tiện và điều kiện học tập.
Tuy nhiên, học tập ngoài lớp có những đặc trưng như sau: - Nhu cầu, động cơ học tập phải cao, phải đủ mạnh để thúc đẩy hoạt động học tập diễn ra. - Tính tự giác, tích cực, tự chủ, tính độc lập cao trong quá trình sinh viên tự tổ chức và điều khiển hoạt động học tập ngoài lớp. - Ý chí trong học tập phải mạnh để giúp sinh viên vượt qua những khó khăn trên con đường áp dụng phương pháp học, theo đuổi việc học đến cùng. - Tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh thường xuyên hoạt động học để đạt được mục đích, nhiệm vụ học tập được giao.
Từ những đặc điểm trên, theo chúng tôi có thể hiểu học tập ở ngoài lớp là một bộ phận của hoạt động dạy học mà ở đó người học tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập nhằm vận dụng tri thức hình thành kỹ năng, củng cố và bổ sung, hệ thống hóa tri thức, kỹ năng, hoặc chuẩn bị cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng mới ở trên lớp dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giảng viên. Ý nghĩa của học tập ngoài lớp - Học tập ở ngoài lớp giúp sinh viên vận dụng tri thức, củng cố, đào sâu kiến thức, khái quát và hệ thống hoá kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. - Học tập ngoài lớp cho phép người học tiến theo nhịp độ riêng phù hợp với năng lực của bản thân, điều đó giúp người học chủ động lựa chọn và quyết định một phong cách học hiệu quả. - Học tập ngoài lớp giúp sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo về nghề nghiệp tương lai, họ tự vận động từng bước biến vốn kinh nghiệm lịch sử của loài người thành vốn tri thức riêng của cá nhân - vai trò chủ thể hoạt động nhận thức được thể hiện ở trình độ cao.
- Học tập ngoài lớp hình thành và rèn luyện năng lực, hứng thú, thói quen, phương pháp tự học thường xuyên.