Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤTCHO HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu của thế giới Trong từng giai đoạn đều xuất hiện những tư tưởng giáo dục tiêu biểu của các nhà giáo dục. GDTC (GDTC) đến giai đoạn hiện nay đã được các quốc gia và nhà nghiên cứu quan tâm ở một mức độ nhất định.
Trong phạm vi cho phép có thể đề cập đến một số nghiên cứu sau: Tại các trường THPT ở Úc, GDTC và thể thao trường học rất được coi trọng. Tại các trường đều được đầu tư kinh phí để mua sắm các loại thiết bị, dụng cụ đồ chơi để vui chơi giải trí, rèn luyện thể lực và phát triển các môn thể ổ, crike, điền kinh và bơi lội. Những thiết bị này được thiết kế nhằm giúp phát triển thể lực cho thiếu nhi cũng như tạo hứng thú cho các em khi tham gia những hoạt động này. Việc thiết kế và chế tạo các sản phẩm dụng cụ đồ chơi, thiết bị vận động dành cho nhà trường, hầu hết được chế tạo tại Úc với mạng lưới phân phối được trải rộng trên toàn lãnh thổ.
[1] GDTC ở Trung Quốc nói chung và ở giáo dục THPT nói riêng rất được coi trọng và luôn được đặt trên hàng đầu. Mỗi trường THPT Trung Quốc đều có khu vui chơi rộng rãi với các trang bị đồ chơi, tổ hợp vận động, đặt ngay trong sân trường và được HS rất ưa chuộng. Giờ nghỉ giữa buổi học, những thiết bị này được sử dụng hết công suất. Một số môn thể thao phổ thông, dân tộc, hiện đại được đầu tư khá đồng bộ như môn bóng rổ (giúp phát triển chiều cao, tính linh hoạt và phát triển cơ thể), môn cầu lông (giúp tổ chức vui chơi tập thể, tính tổ 9 chức và phản xạ nhanh).
HS THPT Trung Quốc nhanh nhẹn, sôi nổi, khỏe mạnh, thông minh, khi được tiếp xúc đều tỏ ra linh hoạt, khả năng phản xạ nhanh, giao tiếp tốt. Nhìn chung các loại đồ chơi, thiết bị vận động đa năng, cũng như hiệu quả và mật độ sử dụng những loại thiết bị này tại các trường THPT Thái Lan là rất tốt. [1] Tại các trường học của nước Cộng hòa Liên bang Nga đều chú trọng phát triển khá toàn diện giữa giáo dục trí lực và giáo dục thể lực. Mỗi trường THPT đều có hệ thống thiết bị vận động giúp HS có cơ hội và điều kiện để hoạt động trong sân trường.
Thiết kế kỹ thuật dành cho sân chơi trường THPT ở Cộng hòa Liên bang Nga thường là các tổ hợp vận động với kích thước lớn và một số dụng cụ đồ chơi mang tính chất hoạt động tập thể như: nhà tổng hợp, thang thể dục, đường đua. Màu sắc của những thiết bị - đồ chơi trong tại các trường THPT được lựa chọn thường là các gam màu tươi trẻ, mạnh mẽ, tạo cho sân trường luôn vui tươi thu hút hàng trăm, hàng ngàn lượt trẻ vui chơi, luyện tập hàng ngày cả trước, trong và sau giờ học. Song hành với các thiết bị đồ chơi vận động này là hệ thống các dụng cụ phục vụ tập luyện cho các môn thể thao học đường như điền kinh, thể dục, bóng rổ ất được chú trọng, nên HS phát triển tốt về thể chất, do đó chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, tạo tiền đề cho các cấp học, bậc học cao hơn. [1] Nhật Bản là một trong những quốc gia phát triển vào loại bậc nhất trên thế giới.
Các thiết bị, dụng cụ, đồ chơi dành cho HS tiểu học Nhật Bản không chỉ phong phú về kích thước, chủng loại mà còn phổ cập trên phạm vi toàn quốc nên chất lượng GDTC phát triển đồng đều. Hệ thống các thiết bị, dụng cụ, cầu lông, 10 bóng truyền, bóng đà.trong nhà trường THPT được thiết kế hoàn hảo, tiện dụng cho học sinh, với kỹ thuật cao nên có độ bền và đảm bảo chất lượng, thu hút sự quan tâm, ứng dụng đại trà của hệ thống trường THPT trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống đồ chơi này rất chú trọng phát triển thể chất và trí sáng tạo, tính tập thể, cùng các phẩm chất cá nhân khác. Mỗi thiết bị, dụng cụ đồ chơi đều có tính mục đích cao, khuyến khích trẻ vận động, tìm tòi sáng tạo cách chơi và phát triển trí tuệ của HS THPT.
[1] Như vậy, có thể nói việc GDTC cho HS đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Một nền giáo dục toàn diện nhất thiết phải hài hòa giữa giáo dục trí lực và phát triển thể chất. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu đánh giá sự phát triển thể chất của người Việt Nam luôn được các nhà khoa học quan tâm đặc biệt. Kết quả nghiên cứu của lĩnh vực này là cơ sở, tiền đề cho hầu hết các ngành khác trong xã hội.
Đầu tiên phải kể đến tác giả Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1986), Kiểm tra năng lực thể chất và thể\ thao, Nxb Thể dục Thể thao, thành phố Hồ Chí Minh [11]. Trong giai đoạn này, công trình nghiên cứu có giá trị nhất là kết quả nghiên cứu của Hoàng Công Dân (2005), “Nghiên cứu phát triển thể chất cho HS tại các trường dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc từ 15 đến 17 tuổi” [15], tác giả đã chuẩn hoá một số tiêu chí về hình thái và chức năng được công nhận hằng số sinh học của người Việt Nam năm 2005. Tác giả Trần Đức Dũng (2010), “Nghiên cứu sự phát triển thể chất của HS phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 [16]. Nghiên cứu có tính chất điều tra cơ bản đối với HS nhằm tìm ra quy luật phổ biến về sự phát triển thể chất ở lứa tuổi HS phổ thông có công trình nghiên cứu của tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu (2000), Thực trạng phát triển thể chất của HS, sinh viên trước thềm thế kỷ 21 [25]; Nguyễn Kim Minh (199T), “Tổng 11 quan phát triển thể chất HS Việt Nam đến năm 2010” [28]; Thái Duy Tuyên (2003), "Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của người học” [37];.
Để đánh giá sự phát triển thể chất của học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Vụ Thể thao Quần chúng (Tổng cục Thể dục thể thao), Viện Khoa học TDTT và 12 Sở Giáo dục - Đào tạo trên phạm vi toàn quốc đại diện cho các vùng, miền cả nước gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tây, Tây Ninh, Thái Bình, Nghệ An. đã tiến hành khảo sát thể chất HS phổ thông từ 7 đến 18 tuổi vào năm 1996 với số lượng 28800 (mỗi lứa tuổi, mỗi giới tính và ở mỗi tỉnh đo 100 em, nghĩa là ở mỗi tỉnh khảo sát 2400 em), cùng với mục đích trên nhóm công tác đã phối hợp với các giáo viên tại các trường đại học thuộc diện khảo sát tiến hành vào năm 1998 để khảo sát 6902 sinh viên nam nữ lứa tuổi 18 - 22 của 8 trường đại học thuộc 4 khu vực Hà Nội, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Cần Thơ. Các tiêu chí dùng để khảo sát nói chung bao gồm 2 nhóm là một vài tiêu chí cơ bản về hình thái và tố chất thể lực, các tiêu chí này được hình thành và làm cơ sở cho các đợt khảo sát, về cơ bản là dựa trên các kết quả khảo sát của các tác giả Lê Bửu, Lê Văn Lẫm, Trần Đồng Lâm và các cộng sự (1972 - 1973) tiến hành trên 7135 HS ở lứa tuổi 7 - 17 thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, cũng như dựa trên nghiên cứu của Phan Hồng Minh và cộng sự ở 6867 HS lứa tuổi 7 - 18 tiến hành vào năm 1979 - 1981 trên các miền đất nước. Mục đích là điều tra hiện trạng phát triển thể chất của con người Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn các tiêu chí về hình thái và năng lực vận động của HS chịu ảnh hưởng mạnh của môi trường vật chất và giáo dục. Đặc biệt, gần đây trong dự án nghiên cứu điều tra sự phát triển thể chất của người Việt Nam thuộc đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước (2001), Viện Khoa học TDTT đã phối hợp với tại các trường đại học TDTT tiến hành điều tra, đánh giá sự phát triển thể chất của người Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bước đầu của đề 12 tài đã xác định được các chỉ số về thể chất của học sinh, sinh viên Việt Nam [30]. Như vậy có thể nói, trong những năm qua, việc nghiên cứu, điều tra đánh giá sự phát triển thể chất của người Việt Nam nói chung, của HS nói riêng luôn được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm.
Vấn đề nâng cao chất lượng GDTC trong tại các trường học đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục chuyên môn ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng các môn thể thao trong chương trình nội khóa, ngoại khóa nhằm phát triển thể chất cho học sinh, có sự đóng góp đáng trân trọng của các tác giả: Nguyễn Quang Uẫn (2003) [42]. Các công trình nghiên cứu nêu trên của tác giả đã ứng dụng thử nghiệm thành công chương trình “điền kinh cho trẻ em” của Hiệp hội các Liên đoàn Điền kinh thế giới và chương trình ngoại khóa môn thể dục Aerobic trong việc phát triển năng lực thể chất cho HS tiểu học một số tỉnh khu vực phía Bắc. Ngoài ra khi xem xét đến lĩnh vực nghiên cứu sự phát triển thể chất của học sinh, các tác giả: Hoàng Công Dân (2005) [15] đã tiến hành đánh giá được các chỉ số hình thái, chức năng, tố chất thể lực của HS phổ thông dân tộc nội trú phát triển theo quy luật, đồng thời xây dựng được các biện pháp phù hợp với đặc điểm nhà trường phổ thông dân tộc nội trú về: môi trường, thời gian, không gian, đặc điểm tâm lý, nhận thức, tư duy, nhu cầu TDTT và điều kiện đảm bảo; đáp ứng mục đích, yêu cầu, nội dung đào tạo của nhà trường; hình thành ở HS các năng lực cần thiết trong học tập môn thể dục và đem lại kết quả dương tính cho sự phát triển thể chất của học sinh.
Tác giả Bùi Quang Hải (2007) [19] đã tiến hành theo dõi sự phát triển thể chất của HS tiểu học (6 - 10 tuổi) bằng phương pháp theo dõi dọc, từ đó đưa ra các phương thức dự báo sự phát triển thể chất của HS trong những năm tiếp theo.