Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp ở các trung tâm giáo dục thường xuyên. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp ở Trung tâm GDTX huyện Mường Ảng - tỉnh Điện Biên. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm ở Trung tâm GDTX huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp là một công việc quan trọng trong các nhà trường và các cơ sở giáo dục, vì vậy ở nước ta cũng như ở các nước ngoài khác có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vấn dề này. Ở nước ngoài, ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX các nhà khoa học Xô viết chú ý đến vai trò, tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông.Abdullina…đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, về vai trò, nhiệm vụ của GVCN trong hoạt động giáo dục học sinh, về nội dung, phương pháp hoạt động của chủ nhiệm lớp. Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị về mặt phương pháp luận và được các thế hệ tiếp theo kế thừa và phát triển, để ứng dụng vào thực tiễn. Ở trong nước, cũng có nhiều tác giả bàn về công tác chủ nhiệm lớp, tiêu biểu là Nguyễn Đình Chỉnh với nghiên cứu: “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”[6]; Hà Nhật Thăng (1998): “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục”[43]; Nguyễn Dục Quang (2000) với nghiên cứu: “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm”[38]; Bùi Văn Huệ (2004) với nghiên cứu: “Nghệ thuật ứng xử sư phạm”[16]; Nguyễn Trúc Lâm, Nguyễn Văn Hộ (2005) với nghiên cứu: “Ứng xử sư phạm”[23]; Bùi Thị Mùi (2005) với nghiên cứu: “Tình huống sư phạm trong công tác giáo dục học sinh trung học phổ thông”[29];… Trong các công trình nghiên cứu này các tác giả đã phân tích vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp, cũng như vấn đề quản lý giáo dục học sinh và xây dựng tập thể lớp học.
đây là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những công trình nghiên cứu có tính lý luận cơ bản giúp các trường sư phạm trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Ở trình độ đào tạo thạc sĩ quản lý giáo dục, đã có một số tác giả nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, về nội dung và phương pháp giáo dục của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp, về quản lý học sinh trong lớp chủ nhiệm, về xây dựng tập thể học sinh, về giáo dục học sinh cá biệt, về phòng chống các tệ nạn xã hội xâm nhập học đường. Tiêu biểu là các công trình của Nguyễn Hoàng Giang, Triệu Thị Hoa, Hoàng Văn Cảnh, Lê Thị Thu. Các công trình nghiên cứu này mang tính ứng dụng lý thuyết vào thực tế, đã làm rõ những ưu, nhược điểm trong công tác giáo dục học sinh ở các lớp chủ nhiệm, đã chỉ ra những nguyên nhân thành công và chưa thành công, đã đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục học sinh.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu công tác chủ nhiệm lớp và quản lý hoạt động giáo dục cuả giáo viên chủ nhiệm lớp tại các Trung tâm GDTX - một cơ sở giáo dục đặc thù, với các đối tượng học viên đa dạng và phương thức giáo dục và dạy học có khác so với các trường phổ thông. Hơn thế nữa, hiện nay cũng chưa có một công trình nào đề cập tới quản lý hoạt động giáo dục của GVCN ở các trung tâm GDTX cho các tỉnh miền núi, nơi học tập, tu dưỡng của học viên là con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi sẽ nối tiếp các công trình kể trên, đi sâu nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp tại Trung tâm GDTX, để trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của GVCN tại Trung tâm GDTX huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Lý luận về quản lý giáo dục 1.
Quản lý Quản lý là hiện tượng có rất sớm trong xã hội loài người, ở đâu có nhiều người cùng tham gia lao động, với một quy mô nhất định, ở đó có hoạt động quản lý. Xuất phát từ những góc độ khác nhau, các học giả trong nước và ngoài 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý: - C. Mác cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[14.Taylor (1856 - 1915) "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó điều khiển họ hoàn thành một cách tốt nhất và nhanh nhất".Fayol (1841-1925) coi quản lý là một hoạt động có tính đặc thù, ông chỉ ra nội hàm của khái niệm quản lý như sau: "quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra các hoạt động của một đơn vị".Follet (1868-1933) nhấn mạnh "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện hoàn hảo, thông qua điều khiển hoạt động của người khác".Bamard (1886 - 1961) cho rằng đối tượng quản lý vừa là những cá nhân, vừa là các tổ chức, ông nhấn mạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với nhau, với hệ thống, giữa hệ thống với môi trường.
Do vậy "Quản lý là duy trì hoạt động của một tổ chức”. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[15]. Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”[28]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Từ phân tích các định nghĩa trên, ta có thể khái quát như sau “quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục đích hoạt động của tổ chức”. Bản chất của quản lý là sự tác động hợp quy luật làm cho các tổ chức vận hành đạt được hiệu quả mong muốn. Quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh các hoạt động. Qua những định nghĩa trên, ta thấy “quản lý” bao gồm các yếu tố như: + Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động “quản lý”(là một cá nhân hoặc một tổ chức).
+ Khách thể quản lý (hay còn gọi là đối tượng quản lý) chịu tác động của chủ thể quản lý. + Mục tiêu quản lý là quỹ đạo đã định sẵn cho cả đối tượng và chủ thể quản lý hướng tới, là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động quản lý. Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ, tác động qua lại với nhau. Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý.
Khách thể quản lý thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của quản lý. Quản lý có 4 chức năng cơ bản như sau: * Chức năng kế hoạch hóa Kế hoạch hóa là chức năng xác định mục tiêu các hoạt động, các quy định, cách thức và bước đi cụ thể trong một thời hạn nhất định, trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong tổ chức và các điều kiện để triển khai các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả thực tiễn, kế hoạch phải thể hiện rõ các điều kiện về nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và nguồn lực thông tin). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Chức năng tổ chức Chức năng tổ chức là xác lập các quan hệ giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch hoạt động.
Nội dung của chức năng tổ chức là xây dựng cơ cấu, xác định nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận; quản lí nhân sự tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề bạt, sa thải, tổ chức các hoạt động. * Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là tập hợp, liên kết, chỉ huy các thành viên trong tổ chức, giám sát các hoạt động của bộ máy, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc cho nhịp nhàng, hợp lý, động viên khuyến khích người lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. * Chức năng kiểm tra Kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lí. Nhờ có kiểm tra mà người quản lí đánh giá được kết quả hoạt động của hệ thống, thấy được các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động để từ đó điều chỉnh kịp thời, đúng hướng.
Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau và tạo thành một thể trọn vẹn, được mô tả theo sơ đồ sau: Kế hoạch hóa Kiểm tra Tổ chức Thông tin Chỉ đạo Sơ đồ 1. Các chức năng quản lí 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.