Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Hải An, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài HĐGDNGLL từ lâu đã trở thành một đề tài nghiên cứu phong phú và hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và càng ngày họ càng phát hiện ra vai trò to lớn của HĐGDNGLL trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của con người nói chung cũng như vai trò bổ trợ cho các môn học cơ bản nói riêng. Chính vì vậy, HĐGDNGLL là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới. Trong lịch sử, tư tưởng giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội, giáo dục gia đình đã được nhiều tác giả đề cập tới.
Khổng Tử (551 - 479 TCN) - một nhà triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại đã đánh giá rất cao vai trò của giáo dục, đồng thời ông cho rằng: thông qua giáo dục để tạo ra lớp người “trị quốc”, là lớp người nhân nghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo của người quân tử. Ông đưa ra nguyên tắc và phương pháp giáo dục: “Học phải đi đôi với hành”. Ông luôn dạy học trò học gì phải thực hành ngay điều ấy, củng cố tri thức đã học không chỉ bằng cách ôn luyện trong sách vở mà phải bằng việc làm, gắn việc học tập với sinh hoạt, với đời sống của tự nhiên và xã hội. Ông khẳng định: “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc hành chính không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp học kiểu như vậy chẳng có ích gì” [20].
Thomas More (1478 - 1535) - nhà giáo dục không tưởng đầu thế kỷ 16 đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội nên việc giáo dục con người phải thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường, trong lao động và hoạt động xã hội.Đồng thời trong dạy học ông đề cao phương pháp trực quan, thí nghiệm, thực hành và theo ông giáo dục nhằm phát triển nhiều mặt ở trẻ [20]. 6 z Đặc biệt là J.A Cômenxki (1592 - 1670) được coi là “ông tổ của nền giáo dục cận đại”, là danh nhân văn hóa thế giới, đã có nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục của nhân loại. Trong đó ông đặc biệt chú trọng đến việc kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm thoát khỏi hình thức học tập “giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ. Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội những kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ” [20].Anghen (1820 - 1895) đã có nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục hiện đại: cung cấp cho khoa học giáo dục một phương pháp luận vững chắc để xây dựng lý luận giáo dục, vạch ra qui luật tất yếu của xã hội tương lai là đào đạo, giáo dục con người phát triển toàn diện.
Muốn vậy phải kết hợp giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất trong việc thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động xã hội [20]. Ở Việt Nam Chúng ta có thể chia thành hai giai đoạn sau: 1. Giai đoạn trước cải cách giáo dục lần thứ ba (từ năm 1979 trở về trước) Ở giai đoạn này mô tả tên gọi và nội dung khái niệm “HĐGDNGLL” chưa được định hình, nhưng nội hàm cơ bản của khái niệm đã được đề cập trong “Thư gửi học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người viết : “.
Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”. Trong “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Hồ Chủ tịch đã viết: “Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui học” [43, tr 19]. 7 z Những nội dung liên quan đến HĐGDNGLL cũng được đề cập tại điều 7, Điều lệ nhà trường phổ thông tháng 6/1976, đó là: - Việc giảng dạy và giáo dục được tiến hành thông qua các hoạt động giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể….
- Hoạt động tập thể của HS do nhà trường phối hợp với ĐTN Lao động Hồ Chí Minh và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức, bao gồm các hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội của Đoàn và Đội và các hoạt động ngoại khóa về khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao của nhà trường và của địa phương. - Hoạt động tập thể góp phần GD ý thức chính trị, khả năng công tác độc lập của HS, góp phần củng cố, mở rộng kiến thức và phát triển mọi năng khiếu của họ theo chương trình và kế hoạch thống nhất. Như vậy, hoạt động tập thể được xác định là một trong những hoạt động GD cơ bản thực hiện trong trường phổ thông, nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ. Trong bài nói ở Hội nghị tổng kết năm học 1977 – 1978 của ngành giáo dục (ngày 05 tháng 7 năm 1978 ), Tố Hữu có nói: “Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, ta phải thấu suốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội, không những qua công tác thực hành mà cả trong những giờ dạy trên lớp.
Không phát huy tác dụng tổng hợp của các HĐGD thì không có chất lượng giáo dục, kể cả chính trị, đạo đức, văn hoá” [23, tr 205] 1. Giai đoạn thứ hai (từ cải cách giáo dục lần thứ ba từ năm 1979 tới nay) Nghị quyết số 14 - NQ/TW ngày 11/ 01/ 1979 của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng (Khóa IV) về cải cách GD đã khẳng định: “Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học mang tính chất toàn diện…, nhưng có chú ý hơn đến việc phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân., cần coi trọng giáo 8 z dục thẩm mỹ, giáo dục và rèn luyện thể chất, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và rèn luyện quân sự” .TSKH Phạm Minh Hạc “Toàn bộ công tác giáo dục của chúng ta nhằm xây dựng toàn diện nhân cách của con người Việt Nam sống và làm việc trong thời đại đổi mới. Đó là nhân cách của người lao động sáng tạo năng động, có tay nghề, có tâm hồn….chứ không phải là con người sống cốt cân bằng với ngoài giới hay chỉ thích nghi với xã hội. Nhân cách sinh thành và phát triển bằng các hoạt động đã nêu ở trên, trong đó có một hoạt động có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách là hoạt động giao tiếp, vì tất cả các mối quan hệ có ở con người, quan hệ người - vật, quan hệ người – máy,….
đều gắn bó bằng cách này hay cách khác với quan hệ người - người” [19, tr 108]. Điều 26, trong Điều lệ trường Trung học Cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học, (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT- BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) có nêu: Các HĐGD bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Để đáp ứng yêu cầu cải cách GD, đã có nhiều công trình nghiên cứu làm rõ khái niệm “hoạt động ngoài giờ lên lớp” và xác định các hình thức tổ chức có chất lượng HĐGDNGLL trong nhà trường. Các nghiên cứu cơ bản, mang tính lý luận nhằm xác định nội hàm của khái niệm “HĐGDNGLL”, xác định mục tiêu, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, hình thức của HĐGDNGLL.
Đã có các công trình nghiên cứu sau: - Một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiến nội dung, đổi mới phương pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL do nhóm cán bộ nghiên 9 z cứu của Viện Khoa học GD thực hiện như: Đặng Thúy Anh, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, Nguyễn Thanh Bình. - Một số nghiên cứu lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận về HĐGDNGLL của một số tác giả như: Nguyễn Lê Đắc, Hoàng Mạnh Phú, Lê Trung Tấn, Nguyễn Dục Quang, Hà Nhật Thăng. - Một số sách, tài liệu viết về HĐGDNGLL của một số tác giả như: Bùi Sĩ Tụng, Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ,. Qua hệ thống nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đi sâu vào nghiên cứu cơ bản về HĐGDNGLL ở các bậc học, cấp học, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng qui trình tổ chức và đổi mới nội dung phương pháp HĐGDNGLL.
Tuy đã có rất nhiều công trình, đề tài nào nghiên cứu về quản lý và các biện pháp quản lý HĐGDNGLL nhưng HĐGDNGLL được áp dụng vào thực tiễn ở mỗi trường lại có nhiều điểm khác nhau với những hạn chế nhất định. Chính vì vậy, trong điều kiện công tác của bản thân, tôi thấy cần có sự nghiên cứu cơ bản về thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Hải An, thành phố Hải Phòng. Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý 1.