CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC LỚP BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở ngoài nước Từ trước đến nay, trong mọi thời đại, vấn đề dạy học và quản lý hoạt động dạy học luôn được xác định là vấn đề hàng đầu trong các nhà trường. Trong thời đại khoa học và công nghệ hiện nay, với nền kinh tế tri thức, tiềm năng trí tuệ trở thành nền móng và động lực tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội.
Hầu hết các quốc gia đều thấy vai trò to lớn của giáo dục đào tạo đối với sự phát triến KT - XH của đất nước mình, coi nó là nhân tố quyết định sự thành bại của sự phát triển. Với sự thành công của nhiều quốc gia trên thế giới về tốc độ tăng trưởng KT-XH đã chứng minh một thực tế và khẳng định vai trò của giáo dục và đào tạo như là yếu tố quyết định đến sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia. Ngay từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) Ông tổ của nho giáo, nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc đã cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, vững mạnh thì người quản lý cần chú trọng đến ba yếu tố: Thứ (dân đông); Phú (dân giàu); Giáo (dân được giáo dục). Như vậy giáo dục là cần thiết cho mọi người "hữu giáo vô loại".
Về phương pháp giáo dục, ông coi trọng vệc tự học, tự tu luyện, phát huy tính tích cực sáng tạo, năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, phát triển động cơ, hứng thú, ý chí của người học. Nhìn chung cho đến nay, những giá trị tiến bộ về phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn là những bài học lớn cho các nhà trường và cán bộ quản lý trong công tác quản lý của mình. Nhật Bản là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, lại là nước bị bại trận trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nhưng Nhật Bản vẫn mau chóng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển và trở thành một trong những cường quốc hàng đầu về kinh tế trên thế giới.
Tại sao Nhật Bản lại phát triển nhanh như vậy? Một trong những nguyên nhân giúp Nhật Bản phát triển nhanh đó là do họ sớm nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước. Với điều kiện thiếu thốn về tài nguyên thiên nhiên, bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai nhưng ngay từ năm 1946 Nhật Bản đã đầu tư rất lớn cho giáo dục với 28% ngân sách và cho đến những năm 1950 họ tiếp tục đầu tư cho giáo dục lên mỗi năm 1% cho đến 32% ngân sách cho giáo dục và ổn định từ đó cho đến nay mà chưa nước nào trên thế giới có thể làm được điều đó. Bước sang thế kỷ 20 nhiều nhà Tâm lý học và Giáo dục học nổi tiếng thế giới đã đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học. Ðặc biệt các nhà Tâm lý học, giáo dục học lỗi lạc của Liên Xô (cũ) như A.Kruchetxki đã có nhiều tác phẩm giá trị đề cập đến vấn đề này.
Ở trong nước Ở Việt Nam trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới sự nghiệp giáo dục. Hội nghị lần thứ 2 BCHTW khoá VIII đã ra nghị quyết về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo, đến Hội nghị lần thứ 6 BCHTW khoá IX đã họp kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết lần thứ 2 BCHTW khoá VIII. Để triển khai Nghị quyết của Đảng về giáo dục, Chính phủ cùng các ngành, các cấp có liên quan đã tiến hành cụ thể hoá đường lối của Đảng, xây dựng chiến lược, chương trình, phát triển giáo dục trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Đặc biệt Nghị quyết số 40/2000/QH 10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, tạo điều kiện để giáo dục Việt Nam theo kịp trình độ giáo dục thế giới, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Rõ ràng về mặt lý luận chỉ đạo cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề dạy học, quản lý hoạt động dạy học ở trong nhà trường đã được nhiều học giả ngoài nước và trong nước quan tâm đến. Trong những năm gần đây ở nước ta 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã có một số công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề quản lý hoạt động dạy học, chẳng hạn đề tài "Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ ở trường Đại học sư phạm Hà Nội " của Phạm Hải Hà, hoặc "Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học ở trường Đại học y tế công cộng " của Lê Hoàng Đức; " Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường THPT huyện Kiến Thuỵ Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay " của Trần Thị Hoa và nhiều công trình nghiên cứu khác. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên có thể nhận thấy các tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề hẹp, cụ thể nhằm tìm ra những giải pháp có khả năng thực thi đối với vấn đề dạy học cho các loại đối tượng mà chủ yếu là cho học sinh phổ thông. Từ góc độ chuyên ngành "Quản lý giáo dục", cụ thể là vai trò vị trí của người Hiệu Trưởng trong quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường là một vấn đề rất quan trọng.
Chúng ta thấy rằng: Về cả lý luận lẫn thực tiễn, vấn đề quản lý hoạt động dạy học nhiều năm qua đã được quan tâm, nhưng các biện pháp đưa ra chưa thành hệ thống cũng như thiếu tính khả thi và hiệu quả chưa cao. Đối với cá nhân tôi, hiện là giảng viên của khoa Bồi dưỡng nhà giáo và CBQLGD, tuy không trực tiếp tham gia làm công tác quản lý giáo dục nhưng với vai trò giảng dạy chuyên môn cho đối tượng là cán bộ quản lý các cấp mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Vì vậy trách nhiệm của cả tập thể nói chung và của cá nhân tôi nói riêng phải làm sao cho hoạt động quản lý dạy học các lớp bồi dưỡng trên sao cho có hiệu quả và sau khi học xong khóa học 3 tháng trở về trường, mỗi cán bộ quản lý giáo dục sẽ có thêm kiến thức và kỹ năng thực hành để quản lý đơn vị mình ngày một đi lên. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.Quản lý Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện, cuộc sống thực tế buộc con người phải cố kết thành cộng đồng, và để xã hội tồn tại phát triển cần phải có sự quản lý, song ở buổi ban đầu thì mới chỉ là quản lý mang tính bản năng.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chỉ đến khi loài người phát triển đến một trình độ cho phép thực hiện sự phân công lao động xã hội, tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, thì mới manh nha ra đời các thuyết tư tưởng quản lý. Trải qua các thời kỳ, với sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đã xuất hiện các nhà tư tưởng chuyên nghiên cứu về triết học và vận dụng nó vào quản lý xã hội. Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc.
Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý. Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý học. Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm ". 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". - Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó.
Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công".Chủ trương của Peter. Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp. Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển".