Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Chúng ta có thể thấy trên thế giới đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục như: “Những vấn đề quản lý trường học” của tác giả P.
Khi tổng kết những kinh nghiệm quản lý chuyên môn trong vai trò là Hiệu trưởng nhà trường, nhà giáo dục học Xô-viết V.A Xukhomlinxki đã kết luận rằng “Kết quả hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn các hoạt động dạy học”. Cùng với nhiều tác giả khác, ông đã nhấn mạnh đến sự phân công, sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất và khoa học về công tác quản lý giữa Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra. Trong quyển “Best ideas from the world’s teachers for improving Education in the classroom” của Stigler, J. (1999) có nói rằng “Việc học ở trường sẽ không được cải thiện rõ rệt trừ khi chúng ta trao cho giáo viên cơ hội và sự hỗ trợ mà họ cần để thúc đẩy nghề của mình bằng cách tăng hiệu quả của phương pháp họ sử dụng”.
Đây được xem là một trong những tiền đề để xây dựng một nền giáo dục tốt cho cả giáo viên và học sinh trên khắp thế giới, cuốn sách đưa ra những ý kiến và phương pháp giảng dạy cho giáo viên, làm cách nào dạy cho có hiệu quả, mang lại sự thích thú cho học sinh, cũng như nhiệt huyết của giáo viên. Theo quyển “Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục” – Tony Wagner (nguyên tác: The Global Achivement Gap, bản tiếng Việt do Dtbooks phát hành năm 2014) là cuốn sách tập hợp những bài viết nghiên cứu về giáo dục. Trong 8 đó chỉ ra các yếu điểm của một số môi trường giáo dục và học tập thụ động. Ông cho rằng nền giáo dục của chúng ta đang phải đối mặt với sự lỗi thời.
Thay vì dạy học sinh trở thành những người có tư duy phản biện và có khả năng giải quyết vấn đề, chúng ta đang khiến người trẻ tập trung vào việc chuẩn bị cho các kỳ thi và học theo kiểu ghi nhớ dữ liệu. Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút các học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật. Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kì bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế. Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ, chỉ bởi hi vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn.
Tuy nhiên, suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều. Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đã đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập. Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh.
[26] Xem xét những điểm số thấp của học sinh trong những xu hướng nghiên cứu toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa Kì. Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi chú ý trong cách học của đứa trẻ. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay đã xuất hiện rất nhiều những công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục có giá trị như: “Bài giảng cơ sở khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội 2004) [10]; Lý luận quản lý giáo dục đại cương của tác giả Nguyễn Khắc Chương [13]. Đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: tài liệu “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang [30]; tác giả Đặng Quốc Bảo với tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” [4].
Đó là những tài liệu mà trong đó trình bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục được tiếp cận từ những mô hình, trong đó có đề cập đến dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Đinh Quang Báo - Phan Thị Thanh Hội có bài viết Dạy học môn Sinh học tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới, Tạp chí Giáo dục, số 435 (Kì 1-8/2018), Tr40-43 [2]. Bài báo nêu ra rằng: Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới có các điểm chính như: 1) Định hướng phát triển năng lực người học, điều này yêu cầu người giáo viên (GV) cần phải biết cách lựa chọn phương pháp dạy học (PPDH), cách đánh giá kết quả giáo dục đáp ứng mục tiêu hiện thực hóa yêu cầu cần đạt thành và chuẩn đầu ra của chương trình, nghĩa là cần xem mục tiêu và chuẩn đầu ra là bản thiết kế, còn người dạy là người đọc bản vẽ thiết kế và thi công làm ra sản phẩm là nhân cách học sinh (HS); 2) Chương trình và sách giáo khoa (SGK) theo định hướng tích hợp và phân hóa. Để hiện thực hóa Chương trình GDPT mới, GV, HS và nhà trường cần có những nỗ lực trong đổi mới chuyên môn, quản lí.
Trong bài viết này, tác giả giới thiệu một số ví dụ minh họa cho việc GV biết phân tích chương trình, đọc được bản thiết kế yêu cầu cần đạt để tổ chức dạy học môn Sinh học đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT mới. 10 Một số nghiên cứu trong các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục, Thạc sĩ giáo dục học cũng đã đề cập đến công tác quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trường phổ thông, các địa phương cụ thể. Những đề tài này đã nêu ra được cơ sở lý luận của việc quản lý chuyên môn và đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở một số cơ sở giáo dục. Bùi Thu Trang với luận văn thạc sĩ Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường trung học cơ sở Nam Trung Yên, quận Cầu Giấy, Hà Nội [33].
Tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động dạy học và thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS Nam Trung Yên theo định hướng phát triển năng lực để tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm nâng cao chất lượng dạy học tại trường THCS Nam Trung Yên. Bùi Thành Hồ với luận văn thạc sĩ Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trường Trung học Phổ thông Mỹ Văn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, Trường Đại Học Giáo Dục [19]. Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác quản hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT Mỹ Văn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT Mỹ Văn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên, là những công trình nghiên cứu vô cùng giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận các công trình nghiên cứu trước, tác giả tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Sinh học theo định hướng phát triển năng lực người học ở trường trung học phổ thông tỉnh Sóc Trăng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và bộ môn Sinh học nói riêng. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Quản lý Có nhiều khái niệm khác nhau: Theo C.
Mac “Quản lý là lao động điều khiển lao động”, Mác viết: “bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn, đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… một nhạc sĩ thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [25] Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [23]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là “Quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình” [11]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là sự bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới” [30]. Theo tác giả Nguyễn Khắc Chương “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [13].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung” [3].