Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giáo dục bậc trung học cơ sở công lập Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục bậc trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục bậc trung học cơ sở công lập trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIÁO DỤC BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục phổ thông 1. Khái niệm - Giáo dục phổ thông là chương trình giáo dục giành cho lứa tuổi từ 6 đến 18 tuổi, cấp học này cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu giúp tuổi trẻ có thể tiếp tục học nghề, học lên hoặc đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình và cống hiến cho xã hội.
- Giáo dục phổ thông là thuật ngữ mang nội hàm rộng bao gồm cả giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (giai đoạn giáo dục cơ bản) và giáo dục trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp). - Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến hết lớp 5. Học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học sẽ học tiếp lên trung học cơ sở. - Giáo dục trung học cơ sở tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học.
- Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến hết lớp 9. Học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở có thể học tiếp lên trung học phổ thông hoặc theo học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và trung cấp. - Giáo dục trung học phổ thông tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở. Trong thời gian học trung học phổ thông, học sinh có thể chuyển sang học chương trình đào tạo trình độ trung cấp nếu có nguyện vọng và đáp ứng được yêu cầu của chương trình.
Giáo dục trung học 8 phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến hết lớp 12. Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể học lên đại học hoặc theo học các chương trình giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục quốc dân Hệ thống giáo dục quốc dân là tập hợp các cơ quan chuyên trách về giáo dục và đào tạo của một quốc gia và các mối liên hệ chức năng giữa các cơ quan này, trong đó mạng lưới các trường học và các cơ sở đào tạo tạo thành cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng để tiến hành giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nhân lực theo yêu cầu xã hội. Hệ thống các trường học được xây dựng thống nhất trên phạm vi cả nước, được sắp xếp thành các bậc học, cấp học.
Bậc học là một giai đoạn giáo dục đào tạo, là hình thành một trình độ học vấn (văn hoá hay chuyên môn) xác định. Cấp học là thành phần thuộc bậc giáo dục và đào tạo, có mục tiêu xác định ứng với một trình độ bộ phận của bậc đó [15]. 9 Tiến sĩ (3 - 4 năm) Thạc sĩ định hướng Thạc sĩ định nghiên cứu hướng ứng dụng (1 - 2 năm) (1 - 2 năm) Đại học định Đại học định Giáo dục thường xuyên hướng nghiên cứu hướng ứng dụng 18 (3 - 5 năm) Cao đẳng (2 - 3 năm) (3 - 5 năm) THPT Trung cấp 15 (3 năm) (2 - 3 năm) Tuổi bắt đầu đi học Trung học cơ sở (4 năm) 11 Tiểu học (5 năm) 6 3 Mầm non (3 năm) Nhà trẻ Chú thích Chuyển đổi cùng cấp Chuyển đổi giữa các cấp SƠ ĐỒ 1.1: HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN [29] 10 1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông - Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. - Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. - Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [21]. Giáo dục bậc trung học cở sở công lập 1.
Khái niệm giáo dục bậc trung học cở sở công lập Giáo dục bậc trung học cơ sở là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, còn được gọi là cấp II. Giáo dục trung học cơ sở kéo dài bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Điều kiện để vào lớp 6 là học sinh phải hoàn thành chương trình tiểu học. Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp 11 tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Giáo dục bậc trung học cơ sở công lập là cơ sở giáo dục do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi, khác với giáo dục ngoài công lập là hoạt động bằng kinh phí đóng góp của học sinh, khách hàng và các khoản hiến tặng hoặc do tổ chức doanh nghiệp hoặc cá nhân đầu tư vốn và cơ sở vật chất, hạ tầng. Đặc điểm giáo dục bậc trung học cở sở công lập Giáo dục bậc trung học cơ sở là một giai đoạn giáo dục có trong một số quốc gia và diễn ra giữa tiểu học và trung học phổ thông. Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường trung học cơ sở là từ 11 tuổi đến 15 tuổi và gồm có bốn lớp là 6, 7, 8 và 9. Đây là bước nhảy vọt về cả thể chất lẫn tinh thần đối với các em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác trong đời sống thì các em hiểu biết chưa đầy đủ, chỉ quan tâm đến việc làm sao cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn.
Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập…còn quan hệ với bạn khác giới như trẻ con. Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vì trong thời điểm này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ tiếp tục phát triển trong tuổi thiếu niên. Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là học tập và giao tiếp nhóm.
12 Vì vậy, giáo dục bậc trung học cơ sở là giai đoạn quan trọng để hình thành thế giới quan và bồi dưỡng về kiến thức, kĩ năng sống, phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng; có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên THPT học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động. Vị trí, vai trò giáo dục bậc trung học cở sở Giáo dục bậc trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [5]. Giáo dục THCS là cấp học nối tiếp cấp học tiểu học, đây là cấp học tạo sự liên thông và đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục THCS không chỉ nhằm mục tiêu học lên cấp THPT mà còn phải chuẩn bị cho sự phân luồng sau khi học sinh học xong cấp THCS; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật, hướng nghiệp để tiếp tục học lên THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Vì vậy giáo dục bậc THCS phải đảm bảo cho học sinh có những giá trị đạo đức, có những kiến thức phổ thông cơ bản, có kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề trong trong cuộc sống. Để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, nội dung, phương pháp phải đảm bảo theo hướng giảm tính lý thuyết hàn lâm, tăng tính thực tiễn thực hành đảm bảo vừa sức khả thi, tăng thời gian ngoại khóa. Như vậy học vấn THCS là rất cần thiết và là nền tảng cơ bản để tiếp thu các các kiến thức khoa học – công nghệ và nghề nghiệp trong các hoạt động đời sống xã 13 hội. Do đó GD bậc THCS là nhu cầu cho mọi tầng lớp dân cư, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên.