Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học 1. Giáo dục, quản lý nhà nước về Giáo dục và Đào tạo 1. Giáo dục Giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người trên trái đất.
Bản chất của giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội giữa các thế hệ với nhau. Giáo dục là một phương thức để duy trì và phát triển xã hội loài người. Giáo dục được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các tác động (bao gồm các tác động tự giác, tích cực xen lẫn các tác động tự phát tiêu cực, các tác động khách quan lẫn tác động chủ quan).
Thứ hai: Giáo dục là hoạt động có mục đích của các lực lượng giáo dục xã hội nhằm hình thành ở người học các phẩm chất nhân cách. Đây chính là quá trình giáo dục xã hội. Ở góc độ thứ 3: Giáo dục là một hoạt động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong các tổ chức giáo dục, trong nhà trường nhằm giúp người học phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất… Đây chính là quá trình sư phạm tổng thể. Ở góc độ thứ tư: Giáo dục là quá trình hình thành ở người học những phẩm chất đạo đức, những thói quen hành vi.
Đây chính là quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp. Từ các góc độ trên, có thể hiểu khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình hình thành có mục đích, có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức, thị hiếu thẩm mỹ cho con người. 10 Còn theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình hình thành ý thức, tình cảm, thái độ, các thói quen hành vi, các phẩm chất đạo đức cho con người. [74] Giáo dục được định nghĩa theo nghĩa rộng hay hẹp cũng đều nhằm mục đích hướng con người vào những quy chuẩn và tạo ra nguồn nhân lực thực sự có ích cho xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Khái niệm quản lý nhà nước về Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội. Những năm qua quan điểm của Đảng luôn coi: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và Nhà nước là một tổ chức của xã hội được lập ra để quản lý và duy trì trật tự xã hội bằng cách thiết lập quyền lực công phục vụ lợi ích và thực hiện lợi ích vừa của giai cấp thống trị, vừa của xã hội. Vì vậy, các cơ quan QLNN về GD&ĐT phải thực thi quyền lực đảm bảo cho các hoạt động của xã hội được diễn ra đúng quy định của pháp luật. Từ những nhận định trên, có thể rút ra QLNN về GD&ĐT là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục do các cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của Nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu giáo dục của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước.
[39] Con người phải có trình độ học vấn do GD&ĐT cung cấp, từ đó sẽ trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cho nên Nhà nước phải thống nhất quản lý về GD&ĐT. Vì thông qua QLNN về GD&ĐT, việc thực hiện các chủ trương chính sách quốc gia nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mới được triển khai, thực hiện có hiệu quả. 11 QLNN về GD&ĐT có thể được coi là khâu then chốt nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi của mọi hoạt động GD&ĐT, tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách con người. Yêu cầu quản lý nhà nước về Giáo dục và Đào tạo Trong quá trình QLNN về giáo dục, các cơ quan được phân công nhiệm vụ này cần đảm bảo tính thống nhất, thông suốt trong việc quản lý, đưa ra các chủ trương, chính sách về giáo dục.
Đồng thời có các chính sách hỗ trợ, ưu tiên, có khuôn khổ pháp luật để quản lý GD&ĐT sao cho đúng hướng phát triển để ra. Khi tổ chức chỉ đạo, điều hành hoạt động QLNN cần bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ thẩm quyền trách nhiệm với nguồn lực tài chính nhân sự và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhà nước thực hiện phân công, phân cấp và xác định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm về lĩnh vực giáo dục của các Bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và các cơ quan có liên quan, đồng thời phát huy cao nhất tính chủ động sáng tạo của cơ quan quản lý giáo dục các cấp trong việc thực hiện chức trách và nhiệm vụ được giao. Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học Từ sự nghiên cứu kết hợp giữa khái niệm QLNN và những vấn đề cơ bản về GDTH, có thể quan niệm: “QLNN về GDTH là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động GDTH, do các cơ quan quản lý giáo dục của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp GDTH, duy trì trật tự, kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu GDTH của nhân dân, thực hiện mục tiêu GDTH của nhà nước”.
12 Chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học ở Trung ương: Chính phủ; Bộ GD&ĐT; Bộ, cơ quan ngang Bộ như: Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,. Các cấp QLNN về GDTH ở địa phương bao gồm: UBND cấp tỉnh, Sở GD&ĐT; UBND huyện, Phòng GD&ĐT; UBND cấp xã. Vai trò quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học 1. Định hướng sự phát triển của giáo dục tiểu học GD&ĐT là nguồn lực hàng đầu cho phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Trên cơ sở đó, nhà nước phải định hướng phát triển, đề ra mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu GDTH nói riêng; sử dụng các công cụ, phương thức quản lý, đầu tư và huy động nguồn lực trong xã hội để thực hiện mục tiêu đó. Xét trên tổng thể, QLNN có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội. Thông qua việc thực hiện các chủ trương, chính sách quốc gia nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, QLNN về GDTH có thể được coi là khâu then chốt góp phần đảm bảo thực hiện thắng lợi mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách con người. Nhà nước là chủ thể chính của nền GD&ĐT, hệ thống GDTH do Nhà nước thống nhất quản lý.
Dù sự tham gia của các thành phần xã hội, của địa phương là cần thiết, nhưng vai trò chủ chốt của Nhà nước trong việc dự báo, định hướng phát triển GDTH là rất quan trọng. Điều chỉnh sự phát triển giáo dục tiểu học phù hợp với xu hướng Khoa học quản lý công cũng như thực tiễn quản lý - điều hành xã hội cho thấy: Nhà nước là một chủ thể quản lý đặc biệt, thể hiện không chỉ ở quy 13 mô của tổ chức hay phạm vi tác động rộng lớn mà còn ở khả năng sử dụng công cụ quản lý đặc biệt là quyền lực nhà nước được biểu hiện cụ thể là chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch để điều chỉnh sự phát triển GDTH cho phù hợp với xu hướng phát triển trên các vùng - miền cũng như trước yêu cầu đổi mới GDTH, hội nhập quốc tế về giáo dục. QLNN về GD&ĐT là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức bộ máy QLNN về giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhằm phát triển sự nghiệp GDTH; duy trì trật tự, kỉ cương, thoả mãn nhu cầu học tập của nhân dân, thực hiện mục tiêu GDTH góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển của các địa phương và đất nước.
Mặt khác, QLNN về GDTH nhằm tổ chức - thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động dạy và học, đảm bảo kỷ cương trong mọi lĩnh vực GDTH, đảm bảo chất lượng và hiệu quả GDTH trên các vùng - miền. Hoạt động thanh tra, kiểm tra là hoạt động đặc thù thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thiết lập kỷ cương, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, chính sách, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của học sinh và của nhà trường. Đảm bảo sự hỗ trợ và tạo điều kiện của nhà nước đối với giáo dục tiểu học QLNN giữ vai trò quyết định trong việc đầu tư phát triển và đảm bảo hiệu quả GDTH. GDPT nói chung, GDTH nói riêng là một lĩnh vực DVC rộng lớn tác động đến toàn xã hội nhằm thiết lập nền dân trí, tạo nguồn đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục cần được đầu tư lớn và dài hạn, kết quả gặt hái được phải tính trong thời gian dài.
Vì vậy, với quyền lực, năng lực và nguồn lực của mình, chỉ nhà nước mới có thể đảm nhận việc đầu tư cho giáo dục; đồng thời thiết lập thể chế, ban hành chính sách 14 để tăng cường huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục. Mức độ đầu tư xây dựng trường học, tăng cường trang thiết bị dạy - học, đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, CBQL giáo dục có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển giáo dục trên cơ sở đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô GDTH; hiện đại hóa, chuẩn hóa các cơ sở trường học phục vụ cho giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh.