Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Công trình nghiên cứu về đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực Hiện nay, hướng tiếp cận giáo dục dựa trên năng lực đang trở thành mô hình được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia phát triển. Là một bộ phận hợp thành quan trọng và tất yếu của toàn bộ quá trình dạy học, với ưu thế khắc phục được những hạn chế của hoạt động đánh giá kết quả học tập dựa trên nội dung, phương pháp đánh giá dựa trên năng lực của học sinh đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong nghiên cứu của Woft (2001), “Competence base essessment” (Đánh giá dựa trên cơ sở năng lực) đã chỉ ra xu hướng đánh giá mới là đánh giá dựa theo năng lực, tức là đánh giá khả năng tiềm ẩn của học sinh dựa trên kết quả đầu ra cuối cùng một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc học sinh đã thực hiện thành công các sản phẩm học tập gắn với bối cảnh thực. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập hoàn toàn giao cho giáo viên và học sinh chủ động, phương pháp đánh giá được sử dụng đa dạng, sáng tạo và linh hoạt [93]. Tác giả Gervais (2016), trong công trình nghiên cứu “The operational definition of competency‐based education” (Định nghĩa hoạt động của giáo dục dựa trên năng lực) cũng nhấn mạnh, đánh giá dựa trên năng lực giữ vai trò quan trọng. Bởi việc đánh giá cung cấp cho học sinh biết mức độ đạt được kiến thức và năng lực của chúng cũng như năng lực giảng dạy của giáo viên, từ đó xác định được nhu cầu của người học để có những điều chỉnh, bổ sung hợp lí.
Đánh giá phải dựa trên mức độ năng lực đạt được của học sinh chứ không so sánh giữa em này với em khác. Vì vậy, sẽ không tồn tại việc xếp loại, phân hạng học sinh mà chỉ dựa trên đánh giá mức độ học sinh đó đạt được [82]. Trong công trình “Develop Competency-Based Assessment Plans” (Xây dựng kế hoạch đánh giá dựa trên năng lực) của Tan, S đã khái niệm: Đánh giá theo tiếp cận năng lực là 13 một tập hợp sự đo lường được kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một người cần phải thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả [97]. Năng lực chính là sự kết hợp của yếu tố kiến thức, kĩ năng và thái độ.
Tuy khái niệm này chưa thực sự rõ ràng, dễ hiểu, song đã nêu bật được bản chất của đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực, đó là sự thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả hay nói cách khác là vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ vào cuộc sống của người học. Bàn về lí do tại sao phải dạy học và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, các nghiên cứu đã đưa ra nhiều kiến giải. Trước hết, định hướng này chú trọng vào thực hành hơn là tích lũy kiến thức. Nghiên cứu “L’irresistible ascension du terme ‘compétence’ en education” (Sự trỗi dạy không thể cưỡng của thuật ngữ “năng lực” trong giáo dục) của tác giả Romainville (1996) cho rằng định hướng phát triển năng lực được lựa chọn xuất phát từ quá trình phê phán nhà trường hiện nay, khi mà học sinh biết nhiều kiến thức nhưng vận dụng rất ít kiến thức học ở nhà trường vào cuộc sống [92].
Theo Bissonnette và Richard (2001), với nghiên cứu “Comment construire des compétences en classe. Des outils pour la réforme” (Cách xây dựng kĩ năng trong lớp học. Công cụ cải cách) cho thấy: 80-85% kiến thức học ở nhà trường không áp dụng được ngoài xã hội, do đó học sinh cần có đủ thời gian tích lũy kiến thức. Phương pháp này sẽ giúp loại trừ các bài học đơn thuần ngoài tình huống và tạo điều kiện cho kiến thức nhập thẳng vào bộ nhớ của học sinh [74].
Thứ hai, tiếp cận theo định hướng phát triển năng lực chính là để chuẩn bị trực tiếp cho người học bước vào thị trường lao động ngay còn đang trên ghế nhà trường [92]. Áp dụng đánh giá theo tiếp cận năng lực để khắc phục những hạn chế của đánh giá kết quả học tập dựa trên nội dung. Tác giả Birenbaum và cộng sự (2006) trong “Position paper. A learning integrated assessment system” (Bài viết về lập trường.
Hệ thống đánh giá tích hợp học tập) nhấn mạnh, nếu năng lực được coi như là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ một cách kết hợp để giải quyết các vấn đề trong những bối cảnh cụ thể thì các chương trình giảng dạy và các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba yếu tố này [73]. Nhóm công tác về các kĩ năng cơ bản của Hội đồng Liên minh Châu Âu về chương trình giáo dục và đào tạo 2010 đã phát triển một khung gồm 8 năng lực chính cần hình thành cho học sinh gồm: 14 (1) Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; (2) Giao tiếp bằng tiếng nước ngoài; (3) Năng lực Toán học và Năng lực cơ bản về khoa học, công nghệ; (4) Năng lực kĩ thuật số; (5) Học cách học; (6) Năng lực liên cá nhân, liên văn hóa và xã hội, và năng lực công dân; (7) Năng lực làm chủ doanh nghiệp; (8) Năng lực biểu hiện văn hóa. Các năng lực chính cần hình thành cho học sinh của các nước có trình độ phát triển kinh tế, xã hội và đặc trưng về phong tục, truyền thống văn hóa khác nhau thì không thể hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, các năng lực cơ bản để giúp học sinh sau khi ra trường có thể tự tin, chủ động tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội và hội nhập quốc tế thì phần lớn đều giống nhau [19].
Bàn về các nguyên tắc đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, Raîche (2006) đã xác định và phân chia thành bốn nguyên tắc lớn: (1) Đánh giá phải phục vụ người học: Nguyên tắc này liên quan đến học vì theo định hướng năng lực, học đóng vai trò trung tâm. Đánh giá phải mang tính cá nhân, phục vụ học, phải được kế hoạch hóa và phải kết hợp chặt chẽ với quá trình dạy học. Nó phải được thực hiện trong suốt quá trình học và luôn chỉ ra cho người học đang ở đâu trong quá trình tích hợp phát triển năng lực, họ đang gặp khó khăn nào trong việc phát triển các năng lực theo yêu cầu của chương trình học hay của môn học. (2) Đánh giá phải thực: Nó đòi hỏi các nhiệm vụ đánh giá phải có mối liên hệ chặt chẽ nhất với các hành động mà học sinh phải thực hiện trong xã hội và cuộc sống hàng ngày cũng như gần nhất với cuộc sống nghề nghiệp và cuộc sống hàng ngày của học sinh để các nhiệm vụ đánh giá này có ý nghĩa.
Do đó, các nhiệm vụ đánh giá phải tôn trọng hai nguyên tắc thực và có ý nghĩa. (3) Đánh giá phải công bằng: là sự kết hợp hai nguyên tắc minh bạch và tương đương của đánh giá. Kết quả học tập của học sinh phải được so sánh giữa lớp học này với lớp học khác, giữa giáo viên này với giáo viên khác và giữa trường này với trường khác. Đánh giá về cùng một nhiệm vụ phải cho cùng một kết quả giữa các lần chấm.
(4) Đánh giá phải tích hợp với học: Các phương thức đánh giá phải được tích hợp vào quá trình dạy học, được tích hợp với nhau và được tích hợp vào chương trình giảng dạy. Bốn nguyên tắc này không loại trừ nhau mà gắn kết với nhau và đều tập trung vào người học [60]. Xem xét các công cụ đánh giá, Black và William (1998), trong nghiên cứu 15 “Assessment and Classroom Learning”, Assessment in Education: Principles, Policy & Practice (“Đánh giá và quá trình học tập ở lớp học”, Đánh giá trong giáo dục: nguyên tắc, chính sách và thực hành) cho rằng kết hợp với các bài kiểm tra, các công cụ khác như đánh giá hồ sơ, phỏng vấn và quan sát học sinh, tham vấn ý kiến bên thứ ba (giáo viên, nhà quản lí, cán bộ tư vấn học đường…) cũng được các cơ sở giáo dục sử dụng rộng rãi để đánh giá toàn diện năng lực của học sinh [75]. Theo Nitko và Brookhart (2007), “Educational Assessment of Students” (Đánh giá học sinh trong giáo dục) thì bài kiểm tra nhằm đánh giá năng lực của học sinh là một hoạt động đánh giá trong đó yêu cầu học sinh chứng minh khả năng của mình bằng việc đưa ra các câu trả lời dưới dạng viết/nói, bằng việc tham gia vào các hoạt động của nhóm hoặc tự thể hiện bằng hoạt động của cá nhân, hoặc bằng việc sáng tạo ra một sản phẩm cụ thể [87].
Nghiên cứu “Competence - Based Assessment Techniques” (Kĩ thuật đánh giá dựa trên năng lực) của Fletcher (2001) cũng xác định một số nguyên tắc cơ bản, gợi ý về các phương pháp cũng như lợi ích của kĩ thuật đánh giá theo năng lực, đưa ra một số hướng dẫn cho những người làm công tác đào tạo hướng tới việc đánh giá dựa trên năng lực. Kĩ thuật này đã được áp dụng rộng rãi tại các trường học, cho thấy tính hiệu quả nhất định trong quá trình đánh giá [85]. Trong “The Wheel of Competency Assessment: Presenting Quality Criteria for Competency Assessment Programs” (Bánh xe đánh giá năng lực: Trình bày tiêu chí chất lượng cho các chương trình đánh giá năng lực) của Baartman và cộng sự (2006) đã nghiên cứu cụ thể về đánh giá theo tiếp cận năng lực, xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng của các công cụ đánh giá theo tiếp cận năng lực.