Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu (OECD) đã đưa ra yêu cầu “chất lượng giáo viên gồm 5 nội dung: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mà giáo viên dạy; Kỹ năng sư phạm, phương pháp dạy học, năng lực sử dụng các phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học” [34] Trên thế giới, các nước như Úc, Hoa Kỳ, Anh, Singapore… luôn xem giáo viên là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Tại Singapore mọi hoạt động đào tạo và phát triển giáo viên hiện nay đều hướng tới chiến lược “Đào tạo giáo viên cho thế kỉ 21.
Điểm nổi bật của giáo viên xuất phát từ nhu cầu nâng cao tay nghề, phát triển nghề nghiệp của giáo viên và gắn với hoạt động thực tiễn của giáo viên. Về đào tạo giáo viên được nhiều tác giả nghiên cứu. Nhận thức được vai trò, tính chuyên nghiệp của giáo viên, nhiều đánh giá thiết thực về công việc của giáo viên và đề cao kỹ năng giảng dạy như một lĩnh vực chuyên nghiệp cần được khẳng định. Nhà Giáo dục học Giselle O.Martin Kniep (2016) chỉ ra: “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi”, đây là cách thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Theo ông, việc vận dụng những thủ thuật và đổi mới phương pháp dạy học trong từng lớp cụ thể là một quá trình học tập sáng tạo không ngừng của người giáo viên. Điều này khẳng định chất lượng một giáo viên giỏi tất yếu phải vững vàng về chuyên môn, giỏi về kiến thức, có khả năng giảng dạy cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau và đặc biệt luôn linh hoạt trong phương pháp giảng dạy. Ở Nhật Bản việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy điều kiện thực tế của từng đơn vị mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi yêu cầu nhất định.
Cụ thể mỗi trường có thể cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung vào đổi mới 6 phương pháp dạy học. Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội [23]. Ở Pakistan có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy định, trong thời gian 3 tháng gồm các nội dung phương pháp nghiên cứu, đánh giá học sinh, cơ sở tâm lý - giáo dục, nghiệp vụ dạy học đối với giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm. Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên.
Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên tiểu họcực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài [23]. Quá trình phát triển của chuẩn nghề nghiệp ở Mĩ: Bắt đầu vào giữa thập kỷ 80, những quan tâm sâu sắc về vấn đề giáo viên trong trường học ở Mĩ của nhiều nhà nghiên cứu đã được nhà nước và các cơ sở tư nhân tài trợ. Báo cáo năm 1987 của Tổ hợp Carregie “Chương trình Quốc gia chuẩn bị giáo viên cho thế kỷ 21” đã dẫn tới việc lập ra Vụ Quốc gia Mĩ về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Mĩ với nhiệm vụ nâng cao chuẩn dạy học cũng như thành tích học tập của học sinh trên toàn quốc.
Cơ quan này bắt đầu cấp bằng cho giáo viên vào năm 1995. Ý đồ của vụ giáo dục là tạo cho giáo viên ở khắp nước Mĩ, không kể bằng cấp ban đầu và nơi họ đăng kí hành nghề, được kiểm tra để được công nhận là “đạt” sau khi họ có tối thiểu 3 năm giảng dạy. Chương trình của vụ tuy không bắt buộc nhưng ý tưởng và phương pháp của vụ được chính quyền Clinton rất tán thành (Bộ GD Mĩ, 1997). Chương trình khẳng định việc công nhận kỷ năng giảng dạy xuất sắc đã mang lại phần thưởng cho những giáo viên được đánh giá đạt Chuẩn quy định, mở ra cơ hội để họ nhận vị trí lãnh đạo cũng như tạo ra “ngọn hải đăng” có tác dụng khuyến khích các GV khác.
Trong hai năm đầu, khoảng 500 GV được công nhận, sau đó chính phủ liên bang đồng ý cấp ngân sách để vụ tiến hành xét cấp bằng cho khoảng 100.000 GV trong vòng 10 năm, tới năm 2007, với mục tiêu ít nhất mỗi trường có một GV nhận [12]. Tại nước Anh: Từ cuối thập niên 80, đào tạo theo chuẩn trong lĩnh vực dạy học càng ngày càng được chính phủ chấp nhận và khuyến khích. Trong lĩnh vực dạy học người ta thận trọng trước sự đòi hỏi quá chi tiết của phương pháp dạy học. Điều đó được hội đồng bằng cấp quốc gia thừa nhận trong bản đánh giá các bước khởi đầu của đào tạo theo chuẩn tại các trường học và các cơ sở đào tạo giáo viên.
Hội đồng thấy rằng đào tạo theo chuẩn có thể “làm sắc nét trọng điểm” của chương trình nhưng nó gây căng thẳng nên cần phải chú ý đảm bảo sự quan trọng của các nhân tố nhận 7 thức và tình cảm trong đào tạo GV không bị bỏ qua, cũng như chương trình đào tạo giáo viên không quá hẹp. Các chính sách của chính phủ Anh từ năm 1992 có xu hướng đặt ra những lĩnh vực rộng về tri thức và kỹ năng để lập chương trình đào tạo GV và để đánh giá theo chu kì trong ngành GD [15]. Nước Úc: Cũng như chương trình của nước Mĩ và Anh, từ những năm cuối thập niên 80, việc quan tâm đến chất lượng GV và bồi dưỡng GV ở Úc đã được cả cấp liên bang và tiểu bang chú ý đến. Các tiểu bang chịu trách nhiệm về hệ thống GD riêng của mình.
Năm 1990, BGD và ĐT đã xuất bản “Hiến chương về dạy học” bao gồm 18 điều mà GV phải thực thi. Năm 1993, chính phủ liên bang Úc thành lập “Hội đồng giảng dạy” để soạn thảo khung năng lực quốc gia cho GV mới vào nghề [15]. Vào tháng 2 năm 2000, Trường trung cấp sư phạm cùng với Hội đồng nghiên cứu GD Úc, Hội nghiên cứu chương trình và đại học Melbbourne mở hội thảo quốc gia về “Chuẩn nghề nghiệp, vấn đề, thách thức và cơ hội”. Hơn 120 đại biểu từ New Zealand, Hong Kong, Mĩ và các tiểu bang của Úc tới dự Diễn đàn đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc chuyển sự chú ý từ liên kết các phẩm chất dạy học ở những giai đoạn nghề nghiệp khác nhau sang vấn đề thách thức của việc đánh giá giáo viên tiểu họceo chuẩn.
Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục đang chịu sự tác động bởi xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức, cách mạng công nghiệp 4. Việc xác định nhiệm vụ trong giáo dục được xây dựng trên nền tảng học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Điều đó khẳng định, các quốc gia trên thế giới muốn phát triển giáo dục đều phải hướng tới việc phát triển đội ngũ giáo viên của mình hội đủ các tố chất là nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lí và nhà cung ứng xã hội, đây vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài. Các nghiên cứu trong nước Trải qua các thời kỳ phát triển của đất nước với điều kiện toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang phát triển mạnh mẽ, sự nghiệp giáo dục luôn được đặt lên hàng đầu, nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập và học suốt đời.
Vai trò của nhà trường ngày càng trở nên quan trọng vì nhân tố quyết định chất lượng nhà trường chính là giáo viên, người được xã hội giao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ, trở thành người chủ tương lai của đất nước. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục và đào tạo. Qua một loạt công trình tổng kết thực tiễn, chúng ta nhận thức rằng, trong những năm tới, chúng ta chỉ có thể phát triển kinh tế - xã hội khi dựa vào giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Vì thế, Đảng và Nhà nước đã coi giáo dục và đào tạo là một trong những quyết sách hàng đầu để xây dựng và phát triển đất nước.
Đảng ta đã khẳng định: Phát triển khoa học công nghệ cùng phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu và Đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. 8 Như vậy, sứ mệnh lịch sử của ngành giáo dục và đào tạo rất nặng nề và lớn lao. Tuy nhiên, để thực hiện được sứ mệnh đó, giáo dục và đào tạo phải nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu, yếu kém hiện nay; phải theo kịp với trình độ, xu thế phát triển, hội nhập của khu vực và thế giới, nhất là phải đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn và lý luận giáo dục đã khẳng định rằng: Một trong những biện pháp quan trọng bậc nhất để nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước ta là công tác xây dựng, phát triển ĐNGV.
Theo đó, “Công tác xây dựng ĐNGV phải được xem là giải pháp cốt lõi, quan trọng nhất vì chính đội ngũ này quyết định sự thành bại của việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục” [4, tr. Trong những năm gần đây, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều đề án, nhiều biện pháp nhằm tăng cường chỉ đạo phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL. Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” [38].