PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trong những năm gần đây để thích ứng được với mục tiêu, chương trình giáo dục, nội dung chương trình Công nghệ được triển khai ở Trung học cơ sở. Môn Công nghệ là một trong những môn học trong kế hoạch học tập chính khóa của cấp học THCS, có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, giáo dục lao động, kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho thế hệ trẻ, đồng thời tạo tiền đề phát triển năng lực lao động nghề nghiệp cho nguồn nhân lực tương lai.
Tuy nhiên trên thực tế, khi đưa môn Công nghệ vào trường THCS thì rơi vào tình trạng đội ngũ giáo viên giảng dạy cho môn học này chưa có, hoặc có với số lượng rất ít. Thậm chí có những trường hoàn toàn không có giáo viên đúng chuyên ngành giảng dạy mà đưa một số giáo viên không có giờ hoặc không đủ giờ đảm nhận. Bên cạnh đó vì là một môn học mới, mang tính hướng nghiệp mà công tác hướng nghiệp hiện nay hầu như chưa được quan tâm đúng mức, cho nên môn công nghệ ở trường THCS rơi vào tình trạng dạy cho có dạy, chưa nhận được sự quan tâm thực sự của các cấp lãnh đạo, cũng như của giáo viên đang đảm nhận giảng dạy môn này. Chính vì thực trạng đó mà một số trường CĐSP cũng đã mở các khóa đào tạo GV nhằm đáp ứng nhu cầu nhưng mới chỉ ở dạng đào tạo ghép hai môn VD: Sinh – Kĩ thuật nông nghiệp, Lý – thuật công nghiệp, hoặc đào tạo ghép 3 ngành: Kỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật nông nghiệp và Kinh tế gia đình ….
Cho nên chương trình đào tạo giáo viên công nghệ còn nhiều bất cập. Xuất phát từ lý do trên nên người nghiên cứu chọn đề tài “Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng hệ thống mục tiêu môn công nghệ ở trường THCS” để nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu : Xây dựng chương trình đào tạo/bồi dưỡng góp phần chuẩn hóa năng lực giáo viên Công nghệ ở trường THCS. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: - Chương trình đào tạo giáo viên giảng dạy môn công nghệ ở trường THCS. -1- Luan van - Chương trình bồi dưỡng giáo viên môn Công nghệ ở trường THCS. Khách thể nghiên cứu: Chương trình môn công nghệ ở trường THCS. Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn công nghệ ở trường THCS 4.
Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng được chương trình đào tạo/ bồi dưỡng phù hợp với hệ thống mục tiêu thì sẽ góp phần chuẩn hóa giáo viên công nghệ ở trường THCS, nâng cao chất lượng giáo dục. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. - Khảo sát , đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Công nghệ ở trường THCS và các chương trình đào tạo hiện có - Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên giảng dạy môn công nghệ ở trường THCS.
- Xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên giảng dạy môn công nghệ ở trường THCS. Giới hạn của đề tài. - Trong phạm vi của một luận văn nên chỉ nghiên cứu giới hạn trong sự tương thích giữa chương trình đào tạo và hệ thống mục tiêu môn Công nghệ ở trường THCS. Ở đây, người nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên Công nghệ - Phần Kinh tế gia đình.
- Xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên cho Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 7. Các phương pháp nghiên cứu: 7. Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu - Mục đích : Hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. - Cách tiến hành : Sưu tầm, đọc các tài liệu liên quan vấn đề nghiên cứu; phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hoá theo mục đích nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp điều tra. - Mục đích : Tìm hiểu thực trạng dạy - học, đội ngũ giáo viên đang đảm nhận môn Công ghệ ở trường THCS. - Cách tiến hành: Xác định đối tượng khảo sát; Soạn các phiếu hỏi ; Phát phiếu hỏi và yêu cầu trả lời; thu phiếu, loại bỏ những phiếu không hợp lệ, xử lý phiếu hỏi. Phương pháp đàm thoại.
-2- Luan van - Mục đích : Thu thập thêm những thông tin cần thiết liên quan những vấn đề nghiên cứu, làm rõ thêm một số vấn đề nảy sinh trong quá trình điều tra gặp phải. - Cách tiến hành : Dự kiến các câu hỏi chính định hỏi khách thể điều tra; Gặp gỡ các đối tượng liên quan để tìm hiểu, trao đổi về những vấn đề liên quan đi đến thống nhất; Lập sổ ghi lại những vấn đề cơ bản; Phân tích kết quả thu được gắn với nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. Phương pháp thống kê toán học. Dùng các kỹ thuật, công thức toán học liên quan để tính toán, so sánh, thống kê các số liệu do các phương pháp khác đem lại.
Phương pháp chuyên gia Sử dụng phương pháp Chuyên gia nhằm tranh thủ những ý kiến, những kinh nghiệm bổ ích từ các nhà chuyên môn, đồng nghiệp có cùng tâm huyết với vấn đề nghiên cứu. -3- Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng I. CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG 1. Chƣơng trình: Là các mục, các vấn đề, các nhiệm vụ đề ra và được sắp xếp theo một trình tự để thực hiện trong một thời gian nhất định.
Chương trình còn là nội dung kiến thức, kĩ năng về môn học, được ấn định tương ứng cho từng quá trình giáo dục – đào tạo nhất định. (Từ điển Tiếng Việt 1995, Trang 187) Đào tạo: Quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho họ lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, chuẩn bị cho họ thích nghi với cuộc sống, khả năng tiếp nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần vào phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là một quá trình dạy và học gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ đào tạo của người được đào tạo phụ thuộc vào quá trình tự đào tạo của người đó.
Chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực thì việc đào tạo mới đạt hiệu quả cao. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt ra đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Có rất nhiều dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo lại, đào tạo cơ bản, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa… Chƣơng trình đào tạo : Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo ở nước ta và đây cũng là điều phổ biến trong các văn bản tiếng Anh.: “ Chương trình đào tạo là một bảng thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc một vài năm). Bảng thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, và tất cả các cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” (Wentling ,1993).
-4- Luan van “Chương trình đào tạo (CTĐT) là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu đào tạo mà nhà trường theo đuổi, nó cho ta biết nội dung và phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu.( White ,1995) Về các bộ phận cấu thành của một CTĐT, phải bao gồm 4 thành tố cơ bản vì vậy khi lập kế hoạch cho CTĐT cũng phải xem xét 4 khía cạnh của nó. Đó là: (1) Mục tiêu đào tạo, (2) Nội dung đào tạo, (3) Phương pháp hay qui trình đào tạo và (4) Đánh giá kết quả đào tạo. (Tyler ,1949) Vào đầu thế kỷ 20 các nhà giáo dục học cho rằng chương trình đào tạo là gồm các môn học chủ yếu trong năm lĩnh vực lớn như: ngôn ngữ, toán học, khoa học, lịch sử, ngoại ngữ v. về sau các nhà giáo dục học bắt đầu phân loại ra các loại chương trình đào tạo khác nhau, ví dụ như Bobbitt đã viết vào năm 1924: “Chương trình đào tạo có thể được định nghĩa theo 2 hướng: 1) đó là một loạt các hoạt động nhằm giúp phát hiện ra những khả năng của mỗi học sinh hoặc 2) đó là một loạt những hoạt động có chủ đích nhằm hoàn thiện người học”.
Nhiều tác giả lại cho rằng chương trình đào tạo không phải là một sản phẩm hoàn thiện mà có tính phát triển liên tục “Chương trình đào tạo là một chuỗi những kinh nghiệm được nhà trường phát triển nhằm giúp học sinh tăng cường tính kỷ luật, phát triển năng lực tư duy và hành động.3] Về sau nhiều tác giả lại cho rằng đào tạo là một bản kế hoạch nhằm cung cấp những cơ hội học tập để đạt được những mục đích và mục tiêu cụ thể cho một nhóm đối tượng và ở một nhà trường nào đó. Vào thập niên 1950, định nghĩa về chương trình đào tạo có phần mở rộng hơn, cụ thể là một số ý kiến sau: “Chương trình đào tạo là tất cả các hoạt động của học sinh đã được kế hoạch hóa và chỉ đạo bởi trường học nhằm đạt được những mục đích của giáo dục” [19, p.11] “Chương trình đào tạo là một kế hoạch nhằm cung cấp những cơ hội học tập để đạt được những mục đích và mục tiêu cụ thể cho một nhóm đối tượng và ở một nhà trường nào đó.25] -5- Luan van Từ những năm 1960 trở về sau, người ta quan tâm đến nhiều hơn kết quả mà chương trình đào tạo mang lại, theo quan điểm này các tác giả đã bổ sung vào các định nghĩa cũ các ý như sau: “Chương trình đào tạo không chỉ quan tâm đến những gì học sinh phải làm trong quá trình học tập, mà còn là những gì họ sẽ học được từ những việc làm đó, chương trình đào tạo quan tâm đến kết quả sau cùng” [18, p.67] Các nhà giáo dục học hiện đại đều xem chương trình đào tạo là một tập hợp các mục tiêu và giá trị có thể được hình thành ở người học thông qua các hoạt động được vạch ra trong chương trình đào tạo. Tính hiệu quả của một chương trình đào tạo được đo bằng mức độ đạt được các mục tiêu đã đề ra.