Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV;chú trọng và tạo mọi điều kiện để ĐNGV được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tạo cơ hội cho ĐNGV học tập với nhiều hình thức đa dạng nhằm bổ sung những kiến thức mới phục vụ tốt công tác đổi mới phương pháp giảng dạy, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia.
Báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã khẳng định “vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa”; khẳng định “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với CL giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển ĐNGV cả về SL và CL”. Ở Pháp, việc tuyển dụng GV phải thông qua quy trình thi tuyển chặt chẽ. Nhà nước cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của GV các cơ sở giáo dục tư thục cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với GV các trường công lập.
Về chế độ ưu đãi GV, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: GV chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lương chính của GV trung học và tương đương, ngoài lương theo văn bằng còn có lương theo cấp bậc và trợ cấp bù giá (theo Ths.Đặng Thị Thu Huyền, Tạp chí Giáo dục số 167- 7/2007). Ở Nhật Bản việc đào tạo và bồi dưỡng lại ĐNGV, CBQL giáo dục là nhiệm vụ bắc buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi đơn vị giáo dục cử từ 3 đế 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung vào đổi mới 7 phương pháp giáo dục.
Ở Việt Nam Dân tộc Việt Nam có quá trình phát triển lâu dài với hơn bốn ngàn năm lịch sử. Người Việt Nam từ ngàn xưa đã có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, hình ảnh của người thầy giáo luôn là hình ảnh đẹp cho các thế hệ HS noi theo. Những câu nói “Không thầy đố mày làm nên”, “Không có thầy giáo thì không có trường học”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, đã khẳng định vai trò vị trí người thầy trong mọi thời đại. Phẩm chất và năng lực của người thầy là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định CL giảng dạy và định hướng nhân cách cho HS.
Trong bức thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, HS, sinh viên vào năm học mới ngày 15 tháng 10 năm 1968, Bác Hồ viết : “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầyđủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [24]. Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách về GD & ĐT trong đó chú trọng đến vấn đề phát triển và quản lý đội ngũ nhà giáo và xem đây là khâu then chốt trong quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ nêu rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về SL, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về CL đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao CL và hiệu quả giáo dục”. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ nêu rõ: “Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% GV tiểu học, 88% GV trung học cơ sở và 16,6% GV THPT đạt trình độ đào tạo trên chuẩn; 38,5% GV trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ” [7]. Căn cứ vào những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nhà 8 giáo, nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và nâng cao ĐNGV đã được các tác giả thực hiện trong thời gian qua như: Lê Thị Lan Phương: “Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học tỉnh Phú Thọ”, Năm 2001. Đoàn Thị Bẩy: “Quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Thực trạng và giải pháp”, Năm 2003. Nguyễn Thị Hồng Hoa: “Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đó”, Năm 2005. Phạm Quang Huỳnh: “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng cộng đồng Cà Mau”, Năm 2009. Các đề tài nêu trên đã khai thác nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề liên quan đến công tác quản lý ĐNGV ở các cơ sở giáo dục.
Tuy nhiên công tác nghiên cứu về quản lý ĐNGV THPT chưa nhiều. Đặc biệt đối với tỉnh Cà Mau vấn đề đưa ra các biện pháp quản lý có hiệu quả ĐNGV THPT huyện Đầm Dơi nhằm mục tiêu xây dựng, phát triển và quản lý đội ngũ này tốt hơn vẫn còn nhiều bất cập cần khắc phục. Một số khái niệm Việc nghiên cứu đề tài khoa học, trước tiên cần tìm hiểu và làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ, khái niệm cơ bản như: 1. Quản lý Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) thì: Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Hoạt động quản lý có lịch sử phát triển khá lâu dài cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Ngay từ khi con người có ý thức về quá trình tập hợp lại với nhau tạo ra sức mạnh để tự vệ, kiếm sống thì lao động chung của mọi người đã manh nha những hoạt động mang tính tổ chức, phối hợp và điều khiển. Có 3 yếu tố cơ bản chi phối sự phát triển của xã hội loài người bao gồm: nền tảng tri thức, sức lao động và quản lý. Trong đó, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức với sức lao động.
9 Nói về quản lý, các nhà lý luận dựa vào những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra nhiều khái niệm như : F.W Taylor cho rằng : quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Sephan Robbins quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo nghiên cứu từ góc độ xã hội thì quản lý “là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” Tác giả Nguyễn Ngọc Quang xác định, quản lý “là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” Theo từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa, 2001), quản lý là: hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó” Qua các khái niệm nêu trên, có thể xác định: - Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức. - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức.
- Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố cơ 10 bản của hệ thống xã hội. - Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. - Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. - Quản lý là một hệ thống mở và bản chất của nó là phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Tóm lại, quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả cao bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài người giáo dục mới nảy sinh, phát triển và tồn tại vĩnh hằng.