CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ THỰC TẬP SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu trên thế giới về thực tập sư phạm và quản lí thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên tiểu học 1. Về đào tạo giáo viên tiểu học Bậc tiểu học ở các nước kéo dài từ 4 đến 7 năm, phổ biến nhất là 5 đến 6 năm, vì vậy yêu cầu về trình độ đào tạo của GV tiểu học cũng khác nhau, và còn tùy thuộc điều kiện ở mỗi nước trong từng thời kì.
Nhìn chung, ở các nước phát triển, từ lâu GV tiểu học đã được đào tạo ở trình độ đại học - tuyển HS tốt nghiệp phổ thông trung học, đào tạo trong 2 đến 4 năm (Trần Bá Hoành, 2010, tr. Theo Nguyễn Văn Cường (2009), ĐTGV ở Đức nằm trong trách nhiệm của các bang. Vì vậy, việc đào tạo ở các bang có sự khác nhau. Tuy nhiên, có một sự thống nhất khá cao để đảm bảo việc công nhận lẫn nhau trong ĐTGV ở tất cả các bang.
Sự thống nhất này được thực hiện thông qua Hội nghị thường xuyên của các bộ trưởng giáo dục và văn hoá. Có thể tóm tắt những đặc điểm của mô hình ĐTGV ở CHLB Đức như sau: Trước năm 1980, GV được đào tạo trong các trường đại học sư phạm (ĐHSP). Từ những năm 1980, các trường đại học được tích hợp vào các trường đại học tổng hợp đa ngành. Hiện nay, GV được đào tạo trong các trường đại học đa ngành.
Thời gian ĐTGV tiểu học là 7 học kì (ĐTGV bậc THCS từ 7 đến 9 học kì, ĐTGV THPT là 9 học kì). Chương trình ĐTGV tiểu học giữa các bang có khác nhau, trong đó bậc Bachelor là 6 học kì, bậc Master từ 2-4 học kì. Theo mô hình đào tạo mới này, GV cần có trình độ Master thì mới được đăng kí vào giai đoạn ĐTGV tập sự. Vì vậy, tốt nghiệp bậc Bachelor trong chương trình ĐTGV chưa được phép trở thành GV.
Chương trình đào tạo (CTĐT) Bachelor là tính đa giá trị của bằng Bachelor, có nghĩa là người tốt nghiệp không bị ràng buộc duy nhất vào hướng 12 học lên bậc Master theo chương trình ĐTGV mà có thể tìm việc làm ở thị trường lao động theo các hướng khoa học chuyên ngành mà họ đã học. Tuy nhiên, nét đặc thù của mô hình ĐTGV ở Đức theo mô hình phân 2 bậc nối tiếp này là ngay trong bậc Bachelor đã có nội dung về khoa học giáo dục và thực tiễn PT. Chương trình ĐTGV tiểu học ở Úc được thiết kế trong 4 năm học, bao gồm từ khoảng 450 đến hơn 500 điểm tín chỉ (credit points). Mỗi học phần thường gồm 1 tín chỉ trị giá 15 điểm tín chỉ.
Với mỗi học phần, 1 tín chỉ kéo dài từ 12 đến 15 tuần, SV học tại lớp khoảng 3 giờ/1 tuần và tự học ít nhất gấp đôi số giờ học tại lớp. Trong khi đó, chương trình ĐTGV tiểu học ở Anh được thiết kế 3 năm, số lượng học phần cho mỗi năm học trong chương trình của Anh ít hơn của Úc, chỉ 5 học phần cho mỗi năm học. Một đặc điểm chung đầu tiên dễ nhận ra trong các chương trình ĐTGV ở hai nước đó là sự tinh gọn do số lượng học phần/môn học nhỏ. Toàn khóa ĐTGV tiểu học ở Anh và Úc bao gồm từ 15 đến 35 học phần, trong đó bao gồm cả các học phần TTSP hàng năm (Hoàng Tuyết, 2010, tr.
Hệ thống giáo dục ở New Zealand không có các trường đại học chuyên ĐTGV kiểu như hệ thống các trường ĐHSP Việt Nam. Mô hình ĐTGV ở New Zealand là mô hình đào tạo nối tiếp. Một cử nhân đã tốt nghiệp đại học một ngành phù hợp có nguyện vọng được trở thành GV sẽ được đào tạo thêm 01 năm (34 tuần thực học, trong đó 20 tuần học ở trường đại học và 14 tuần trải nghiệm thực tế ở trường PT) (Nguyễn Văn Khải, 2012, tr. Điểm đặc biệt của việc ĐTGV ở Phần Lan là từ GV tiểu học đến GV trung học đều phải có bằng thạc sĩ, GV nhà trẻ và mẫu giáo cần có bằng cử nhân.
Mục đích của chương trình ĐTGV là đào tạo những công dân hiện đại, đào tạo theo hướng nghiên cứu nhằm đào tạo ra những GV không chỉ có khả năng giảng dạy mà còn có khả năng nghiên cứu độc lập. Cùng với việc học lí thuyết, chương trình còn kết hợp với thực tập giảng dạy tại các cơ sở riêng của các trường SP hoặc liên kết nhằm phát triển kĩ năng của các GV tương lai. Việc thực hành giảng dạy giữ vai trò rất quan trọng, được thực hiện với nhiều lớp, nhiều lứa tuổi học sinh ở các giai đoạn khác nhau (Báo Giáo dục Việt Nam, 05/3/2017). 13 Về phương pháp đào tạo, hướng nỗ lực chung là tăng cường rèn luyện năng lực thực hành vận dụng, tập dượt cho giáo sinh giải quyết những tình huống thường gặp trong thực tiễn nghề nghiệp để giáo sinh sớm thích ứng với nhà trường PT sau khi tốt nghiệp.
Theo Trần Bá Hoành (2010): “Thái Lan đang thay đổi cách đánh giá kết quả đào tạo, nhấn mạnh việc đánh giá các năng lực hơn là chỉ trắc nghiệm trình độ kiến thức, khuyến khích tính năng động của các nhóm học tập, tạo điều kiện cho giáo sinh thâm nhập vào cộng đồng” (tr. Ở Singapore, Học viện Quốc gia về Giáo dục kết hợp với Đại học Kỹ thuật Nanyang để tổ chức các khóa ĐTGV cho các trường tiểu học cũng như các trường trung học. Từ 2010, chương trình ĐTGV được thiết kế để có sự kết nối chặt chẽ hơn giữa lí thuyết và thực hành trong các khóa học. Việc đào tạo thực hành được mở rộng và thực hiện tại các trường học, nội dung thực hành tập trung vào các vấn đề về giao tiếp, trong đó chú trọng vào việc phân tích và phản ánh quá trình thực tập của SV với người hướng dẫn (Ngô Minh Oanh, Trần Thị Kim Thanh, 2016, tr.
Ở Mỹ không có các trường ĐHSP. Tuy nhiên các trường đại học đều có những khoa SP đào tạo GV. Muốn học chương trình nào đó để làm GV phải có bằng cử nhân của ngành đó, phải thi đỗ kỳ thi Praxis I - kỳ kiểm tra kiến thức 3 môn cơ bản của tiểu học là đọc, viết, toán. Trong chương trình có ít nhất 3 lần đi thực tập.
Trong quá trình thực tập hoặc kì cuối trước khi ra trường, SV có thể xin đi làm lấy kinh nghiệm, bằng cách làm GV dạy thế. Thực tập xong chuẩn bị hồ sơ tốt nghiệp và xin việc dưới sự chỉ bảo của GV hướng dẫn (GVHD). Đó là những nhà giáo đang dạy, hiệu trưởng hoặc trưởng phòng giáo dục. Sau đó, còn phải thi đầu ra, tức thi Praxis II.
Nếu dạy cấp 1, SV thi kiến thức tổng hợp các môn đọc, viết, khoa học, nghiên cứu xã hội (Thu Hồng, 2019). Quy trình ĐTGV của Đài Loan được chia thành 4 giai đoạn: 1/ Giai đoạn học chuyên môn (khoảng 128 tín chỉ); 2/ Giai đoạn học nghề (khoảng 30 tín chỉ); 3/ Giai đoạn thực tập nghề; 4/ Giai đoạn thi tốt nghiệp và thi cấp chứng chỉ hành nghề: sau khi đi thực tập SV trở về trường để thi tốt nghiệp. Nếu muốn trở thành GV, người 14 học phải vượt qua kì thi cấp chứng chỉ hành nghề dạy học do Bộ Giáo dục Đài Loan tổ chức (Zhu Yiming - Fang YanPing, 2011). Ở Nhật Bản, chương trình ĐTGV gồm 3 phần: Giáo dục đại cương, giáo dục chuyên nghiệp và kiến thức về nghề dạy học.
Để trở thành GV, người học phải hoàn thành một CTĐT đại học hoặc thạc sĩ và tham gia kì thi cấp chứng chỉ dạy học do Hội đồng giáo dục các tỉnh, thành phố tổ chức. Các chứng chỉ chia thành 3 hạng: cao cấp, hạng nhất và hạng nhì tùy thuộc vào trình độ của ứng viên. Chứng chỉ dạy tiểu học cho phép dạy tất cả các môn học. Trong hệ thống các trường ĐTGV, các trường đại học có đào tạo thạc sĩ cấp chứng chỉ cao cấp, các trường đại học có khoa giáo dục cấp chứng chỉ hạng nhất, các trường cao đẳng cấp chứng chỉ hạng hai (Mai Quang Huy, 2014).
Theo hướng tiếp cận năng lực đầu ra của người học, Richard & Rodger (2001) cho rằng “Quá trình đào tạo cần tập trung vào kết quả học tập của người học, tức là hướng tới những gì người học phải làm được so với những gì họ học được”. Từ các nghiên cứu trên cho thấy, các trường đều quan tâm đến việc thực hành giảng dạy cùng việc học lí thuyết trong quá trình đào tạo nhằm phát triển kĩ năng nghề nghiệp cho những GV tương lai. Hầu hết các CTĐT chú trọng đến kĩ năng thực hành, thực tập và nhấn mạnh đến việc đánh giá năng lực hơn trình độ kiến thức của SV, đề cao những gì SV làm được hơn là những gì họ đã học được. Tuy nhiên, ĐTGV như thế nào để đáp ứng nhu cầu mới, tình hình mới, hướng tới mục tiêu chung là phát triển phẩm chất, năng lực người học thì chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu sâu để công tác ĐTGV đạt được hiệu quả tốt nhất.
Về thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên Trong ĐTGV tại Đức, các kì thực tập trong giai đoạn Bachelor gồm: 03 tuần thực tập định hướng; 03 tuần thực tập trong lĩnh vực thực hành SP - tâm lí học; các thực tập hàng ngày về lí luận dạy học chuyên ngành. Các kì thực tập trong giai đoạn Master gồm: 01 tuần thực tập chẩn đoán tâm lí; 04 tháng thực tập nhà trường. Như vậy, ngay trong giai đoạn Bachelor (06 học kì) đã có các thực tập hàng ngày về lí 15 luận dạy học chuyên ngành (sau giai đoạn này người học vẫn chưa được phép trở thành GV). Sự xen kẽ về chuyên môn và nhân sự trong thời gian thực tập hàng ngày sẽ làm cho việc gắn với thực tiễn của quá trình ĐTGV được tăng cường (Nguyễn Văn Cường, 2009).
Đại học Potsdam là một trong các trường đại học rất quan tâm đến việc thực tập nghề nghiệp cho SV. Ngay từ năm thứ nhất, SV đã được đi thực tập tại các trường PT, trong suốt thời gian học SV trải qua 5 kì thực tập (Nguyễn Văn Cường, Cao Thị Hà, Nguyễn Danh Nam, 2016). Các kỳ thực tập trong giai đoạn Bachelor: - Thực tập định hướng: Được thực hiện ngay sau học kì I, thời gian của đợt thực tập định hướng là 3 tuần, công việc chính của SV trong đợt thực tập này là dự giờ.