Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHỦ NHIỆM LỚP CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Trường tiểu học và giáo viên chủ nhiệm bậc tiểu học 1. Trường tiểu học 1. Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục tiểu học đóng vai trò nền tảng, bắt đầu hình thành nhân cách học sinh.
Từ lứa tuổi này, học sinh sẽ có những nhận thức như ấn tượng về người thầy người cô mẫu mực, là đối tượng để các em học tập và noi theo, thậm chí mơ ước được giống như các thầy các cô. Chính vì thế, vai trò của giáo viên tiểu học có ý nghĩa rất lớn trong hệ thống giáo dục hiện nay.Trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiểu học là cấp học nền tảng có nhiệm vụ hình thành ở học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa [8]. Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng.
Nhiệm vụ: Tổ chức việc giảng dạy, học tập và các họat động giáo dục khác theo chương trình giáo dục tiểu học do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành. Tổ chức huy động trẻ em đúng độ tuổi vào lớp 1, vận động trẻ em bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và tham gia họat động xóa mù chữ ở địa phương [8]. Quyền hạn: Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh; Quản lý sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật; Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng để thực hiện các họat động giáo dục ;Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các họat động xã hội trong phạm vi cộng đồng ở địa phương. Mục tiêu giáo dục bậc tiểu học Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, 9 Luan van xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [8].
Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp cấp trung học cơ sở. Các hoạt động giáo dục ở trường tiểu học Giáo dục đạo đức, nhân cách: Mục tiêu giáo dục tiểu học đầu tiên của một người giáo viên đó là đào tạo đạo đức và nhân cách. Giai đoạn tiểu học là khoảng thời gian trẻ bắt đầu bước vào môi trường học tập thực thụ, chính vì vậy các giáo viên cần giáo dục cho trẻ biết yêu thương, quan tâm giúp đỡ cha mẹ, bạn bè và những người xung quanh, biết cách cảm ơn, xin lỗi và biết chia sẻ với những người không may mắn. Giáo dục kiến thức: Tiếp ngay sau nhân cách thì kiến thức chính là mục tiêu giáo dục tiểu học thứ 2 mà các thầy cô giáo cần quan tâm.
Đối với kiến thức ở khối tiểu học, các em sẽ cần luyện tập khả năng đọc, viết, làm toán, tìm hiểu về tự nhiên, xã hội và thế giới xung quanh. Để giúp các em học tập tốt hơn, dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ kiến thức thì các giáo viên cần đa dạng hóa phương pháp giảng dạy, cách truyền đạt thông tin, không ngừng làm mới giáo án, làm mới nội dung học tập. Giáo dục kỹ năng sống: Với mục tiêu giáo dục tiểu học là giúp các em phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, nên ngoài giáo dục trẻ về nhân cách và kiến thức, các em còn được đào tạo về kỹ năng cần thiết như ý thức tự giác làm bài tập về nhà, giúp đỡ gia đình với những công việc vừa sức, tích cực tham gia các hoạt động chung của lớp, tinh thần làm việc đội nhóm, khả năng tự bảo vệ bản thân… 1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi.
Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa 10 Luan van được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét.
Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh. Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc. Đối với học sinh tiểu học, các em có trí nhớ trực quan phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ. Ví dụ các em sẽ mô tả về một chú chim bồ câu dễ dàng hơn sau khi xem hình ảnh hơn là nghe định nghĩa bằng lời nói rằng chim bồ câu thuộc họ chim, có hai cái cánh, biết đẻ trứng… Trong quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này.
Khi nói về đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học, vấn đề tình thân, tình bạn,… cũng là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ ở lứa tuổi này. Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó gắn kết nhận thức với hoạt động của trẻ em. Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức tốt và thúc đẩy các em hoạt động đúng đắn. Ở lứa tuổi này, đời sống xúc cảm, tình cảm của các em khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang trạng thái tích cực.
Các em bỡ ngỡ, lạ lẫm nhưng cũng nhanh chóng bắt nhịp làm quen với bạn mới, bạn cùng lớp. Trẻ tự hào vì được gia nhập Đội, hãnh diện vì được cha mẹ, thầy cô đánh giá cao hay giao cho những công việc cụ thể. Các em đã biết điều khiển tâm trạng của mình, thậm chí còn biết che giấu khi cần thiết. Học sinh tiểu học thường có tâm trạng vô tư, sảng khoái, vui tươi, đó cũng là những điều kiện thuận lợi để giáo dục cho các em những chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết.
Ngoài ra tâm lí của học sinh dân tộc còn bộc lộ ở việc thiếu cố gắng, thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận thức. Học sinh có thể học được tính cách hành động trong điều kiện này nhưng lại không biết vận dụng kiến thức đã học vào trong điều kiện hoàn cảnh mới. Vì vậy trong môi trường lớp ghép giáo viên cần quan tâm tới việc việc phát triển tư duy và kỹ năng học tập cho học sinh trong môi trường nhóm, lớp. Việc học tập của các em còn bị chi phối bởi yếu tố gia đình, điều kiện địa lý và các yếu tố xã hội khác đòi hỏi nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự kết hợp chặt chẽ để tạo động lực học tập cho học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm lớp bậc tiểu học 11 Luan van 1. Giáo viên chủ nhiệm lớp bậc tiểu học Giáo viên chủ nhiệm là một trong những giáo viên đang giảng dạy ở lớp có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện đứng ra làm chủ nhiệm lớp trong một năm học hoặc trong tất cả các năm tiếp theo của cấp học. Giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện nhiệm vụ quản lí lớp học và là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của lớp, người tập hợp, dìu dắt giáo dục học sinh phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt và xây dựng một tập thể học sinh vững mạnh. Vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm bậc tiểu học Giáo viên chủ nhiệm lớp chiếm vị trí trung tâm, trụ cột trong quá trình giáo dục học sinh (học sinh), là linh hồn của lớp học, là người cố vấn đáng tin cậy, dẫn dắt, định hướng, giúp học sinh vươn lên để tự hoàn và phát triển những phẩm chất và năng lực, phát triển nhân cách.
Chất lượng giáo dục học sinh cao hay thấp là do giáo viên chủ nhiệm quyết định, sự đi lên của tập thể lớp đều có vai trò rất quan trọng của giáo viên chủ nhiệm lớp. - Giáo viên chủ nhiệm là người được hiệu trưởng bổ nhiệm trong số những giáo viên có kinh nghiệm và có uy tín. Giáo viên chủ nhiệm lớp được thay mặt Hiệu trưởng quản lý và tổ chức học tập, rèn luyện đạt mục tiêu đào tạo. Giáo viên chủ nhiệm vừa đóng vai trò quản lý hành chính Nhà nước, vừa đóng vai trò người thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người đại diện cho quyền lợi của tập thể lớp.
- Giáo viên chủ nhiệm là người chủ chốt của nhà trường làm công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp mình chủ nhiệm; - Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa lớp với Ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và Cha mẹ học sinh; - Giáo viên chủ nhiệm là người tổ chức các hoạt động giáo dục trong lớp, các HĐTT và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về công tác giáo dục đào tạo, lối sống và chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt của lớp mình được quy định tại QĐ số 16/QĐ- BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông; 12 Luan van - Giáo viên chủ nhiệm lớp là người đại diện quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của tập thể học sinh, là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.