phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục; luận văn gồm các nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở l luận về đánh giá kết quả giáo dục trong chƣơng trình giáo dục tiểu học mới. Thực trạng đánh giá kết quả giáo dục học sinh lớp 5 trong chƣơng trình giáo dục mới Trƣờng Tiểu học Bắc Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả giáo dục học sinh lớp 5 trong chƣơng trình giáo dục mới ở các trƣờng tiểu học thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.
5 Luan van Chƣơng CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC TRONG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC MỚI 1. Tổng quan về đánh giá kết quả giáo dục trong chƣơng trình giáo dục tiểu học mới 1. Trên thế giới Thời kỳ tiền Tƣ bản chủ nghĩa (Thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.Comenski đ đặt nền móng cho l luận dạy học ở nhà trƣờng. L luận dạy học này đƣợc xây dựng thành một hệ th ng trong tác phẩm “L luận dạy học vĩ đại”.
Ông đ trình bày về vai trò nghĩa của KT-ĐG quá trình lĩnh hội tri thức của HS, ông lƣu việc KT-ĐG phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hƣớng dẫn HS tự KT-ĐG kiến thức của bản thân. Về sau các nhà nghiên cứu l luận dạy học đ phân tích và phát triển l luận KT-ĐG ở các góc độ: vai trò, nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phƣơng pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của việc KT-ĐG.Bloom cùng George F.Thomas Hastings cho ra đời cu n sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá th c đẩy học tập). Cu n sách này dành cho GV, viết về k thuật đánh giá KQHT của HS. Ở Liên Xô cũ và các nƣớc XHCN Đông Âu trƣớc đây đ có nhiều tác giả nghiên cứu về KT-ĐG, song trên thực tế các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về KT- ĐG kiến thức HS thông qua các hình thức trắc nghiệm truyền th ng nhƣ kiểm tra vấn đáp hoặc bài viết (trắc nghiệm, tự luận) chƣa quan tâm đến việc KT-ĐG bằng hình thức trắc nghiệm khách quan.
Vấn đề KT-ĐG KQGD đƣợc các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhƣng tất cả đều nhấn mạnh nghĩa và tầm quan trọng của KT-ĐG KQGD. Từng bƣớc xây dựng hoàn thiện cơ sở l luận, cơ sở thực tiễn và quy trình cho KT-ĐG KQGD. 6 Luan van Tuy nhiên, các nƣớc Thụy Điển, M , Canada, New Zealand sử dụng bảng chữ cái để xếp loại HS; Phần Lan dùng thang điểm từ 4 đến 10; Singapore đánh giá theo mức độ phần trăm hoàn thành nội dung học tập. Chẳng hạn nhƣ từ năm học 2011, Thụy Điển áp dụng cách chấm điểm mới trong hệ th ng giáo dục phổ thông.
Điểm A, B, C, D và E là các điểm đỗ và F là trƣợt. B và D đƣợc coi là điểm thay thế khi HS không đạt điểm A hay C cho tất cả các phần (cho dù đạt đƣợc đa s ). Ở các trƣờng TH M , HS đƣợc đánh giá su t cả năm học bởi GV. Báo cáo đƣợc gửi cho phụ huynh vào nhiều khoảng thời gian.
Nói chung, điểm kiểm tra và điểm bài tập cá nhân (cùng với thang điểm t i đa của bài tập đó) của HS đƣợc ghi lại trong s điểm của lớp. Đánh giá cu i kỳ hay cu i năm đƣợc thực hiện dƣới hình thức cho điểm bằng chữ từ A đến F (b qua E), trong đó A là điểm t t nhất và F là điểm trƣợt, hay cho điểm bằng tỷ lệ phần trăm. Chƣơng trình giảng dạy TH ở Canada đa dạng theo từng tổ chức và mục tiêu giáo dục của từng trƣờng, từng cộng đồng địa phƣơng. Để lên lớp, HS phải tham gia bài kiểm tra.
Nếu kết quả không t t, các em phải học lại một năm. Những em có tài năng có thể đƣợc phép b qua một lớp. Khi theo học trƣờng công lập, trẻ sẽ có “hồ sơ” riêng và đƣợc áp dụng hệ th ng đánh giá liên tục theo su t quá trình học từ lớp một. Cách cho điểm của Canada khác nhau ở từng bang.
Phần Lan, những năm đầu đi học, việc đánh giá HS đƣợc giới hạn trong sự trao đổi giữa phụ huynh và GV thay vì điểm s. Việc bắt đầu cho điểm từ lớp mấy phụ thuộc vào từng địa phƣơng. Thông thƣờng, HS nhận báo cáo kết quả hai lần mỗi năm vào cu i kỳ học mùa thu và mùa xuân. Không có bài kiểm tra lên lớp.
Điểm đƣợc cho trong khoảng 4 đến 10. Giáo dục TH ở Singapore bắt đầu cho trẻ 7 tuổi, đƣợc chia làm 2 cấp: cấp cơ bản 4 năm và cấp định hƣớng 2 năm. Các trƣờng TH ở Singapore thực hiện hệ th ng đánh giá “Mức thành tích” và “Điểm s toàn phần”. 7 Luan van Ở New Zealand, cấp TH nhằm tạo ra “những ngƣời học tự tin, kết n i, tích cực tham gia, ham học h i” với nền tảng vững chắc trong việc đọc, viết và toán học.
Chƣơng trình giảng dạy tập trung vào 8 môn: Tiếng Anh, nghệ thuật, giáo dục sức kh e và thể chất, ngôn ngữ, toán học và th ng kê, khoa học, khoa học x hội, công nghệ. K năng đọc, viết và làm toán đƣợc đánh giá thƣờng xuyên trên kỳ vọng đƣợc lập ra bởi tiêu chuẩn qu c gia cho từng lứa tuổi. Điểm đánh giá HS đƣợc chia theo thang điểm chữ: A, B, C là điểm đỗ và D, E, F, P là điểm trƣợt. Cha mẹ nhận kết quả học tập của con hai lần một năm và có cơ hội thảo luận về sự tiến bộ của trẻ trong các buổi họp thƣờng kỳ với GV [32].
Tóm lại, việc KT-ĐG ở các nƣớc có những nét khác biệt nhau nhƣng tất cả đều hƣớng đến đánh giá phát triển khả năng và năng lực của HS. Luôn có sự ph i hợp chặt chẽ của nhà trƣờng, gia đình và x hội nhằm mục đích lĩnh hội đƣợc những kiến thức thực tế phục vụ cho tƣơng lai của HS sau này. Tại Việt Nam Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX đ có một cuộc cách mạng về KT-ĐG với những thay đổi căn bản về triết lí, quan điểm, phƣơng pháp và các hoạt động cụ thể. Những thay đổi trên thể hiện quan điểm mới: coi ngƣời học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ quá trình giáo dục.
Trong đó dạy-học-giáo dục là ba khâu liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình giáo dục. Có hai quan điểm về đánh giá lớp học: - Quan điểm thứ nhất: Đánh giá theo quá trình học tập (Formative Assessment) của HS là dạng đánh giá quá trình, sự tiến bộ của HS qua các hoạt động học, nó cho thấy sự phản hồi thƣờng xuyên nhằm duy trì sự tiến bộ trong su t quá trình học của các em. Đánh giá theo quá trình học tập, không có mục đích so sánh, phân loại HS, do đó rất ít khi đánh giá thông qua cho điểm s , mà chủ yếu đánh giá bằng nhận xét. Đánh giá theo dạng thức này, thƣờng gắn chặt với GV, phụ thuộc vào năng lực của GV và phụ thuộc vào mục tiêu môn học, mục tiêu bài học.
Giáo dục tiếp cận năng lực của 8 Luan van ngƣời học, nhất thiết phải sử dụng dạng thức đánh giá theo quá trình học tập của HS, bởi vì dạng thức đánh giá này có giá trị phản hồi rất cao [1]. - Quan điểm thứ hai: Đánh giá kết quả học tập (Summative Assessment) của HS là dạng đánh giá phổ biến, truyền th ng theo phƣơng pháp dạy học cũ. Đánh giá thông qua hình thức ra bài kiểm tra, thi cử nhằm xem xét kết quả của HS sau một giai đoạn học nhất định. Đánh giá kết quả học tập của HS, nhằm tổng kết những gì HS học đƣợc, không quan tâm tới HS học tập nhƣ thế nào, nhằm xếp loại ngƣời học, lựa chọn ngƣời học để học tập hay đào tạo và sử dụng, thích hợp tiếp theo.
Kết quả của đánh giá thƣờng là để giải trình cho các phía liên quan nhƣ: cha mẹ HS, các cấp quản l giáo dục, so sánh HS này với HS khác. Dạng thức đánh giá này thƣờng bám sát vào mục tiêu học tập đ đề ra trong mục tiêu giáo dục để tiến hành đánh giá và thƣờng nó tách ra kh i GV trong quá trình đánh giá. Tuy nhiên, thành tích học tập của HS, lại làm cơ sở đánh giá thành tích của GV, xếp loại và đánh giá nhà trƣờng, nên dạng thức đánh giá này thƣờng gây ra những áp lực lớn trong trƣờng học và x hội, nguyên nhân chính dẫn tới bệnh thành tích trong giáo dục [1]. Đề cập đến quan điểm đánh giá theo quá trình học tập, PGS.
Trần Kiều trong bài “Đổi mới đánh giá, đòi h i bức thiết của phƣơng pháp dạy học” thì “KT- ĐG là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của quá trình giáo dục. Các yếu t xác định mục tiêu giáo dục soạn thảo và thực hiện chƣơng trình giáo dục. Kiểm tra, đánh giá là một chỉnh thể tạo thành chu trình kín. M i quan hệ chặt chẽ giữa các yếu t trên đƣợc đảm bảo sẽ tạo thành một quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao” [14, tr.
Tác giả coi “đổi mới phƣơng pháp dạy học gắn liền với đổi mới việc đánh giá nói chung và thi cử nói riêng”. Bên cạnh đó, còn có những tác giả thể hiện quan điểm đánh giá theo kết quả học tập nhƣ: - Trang Thị Lân trong bài “Về việc KT- ĐG kết quả học tập của HS” có viết: “Trong l luận dạy học, kiểm tra là giai đoạn kết th c của một quá trình dạy học, kiểm 9 Luan van tra có ba chức năng là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh, trong đó có chức năng đánh giá là chủ đạo. Đánh giá trong dạy học là một vấn đề hết sức phức tạp, luôn luôn chứa đựng nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm. Vì thế đổi mới phƣơng pháp dạy học đòi h i phải đổi mới cách thức KT-ĐG, sử dụng k thuật ngày càng tiên tiến và có độ tin cậy cao để dễ thao tác hơn” [16, tr.
- Trần Thị Tuyết Oanh trong cu n “Đánh giá và đo lƣờng kết quả học tập” thì cho rằng “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử l thông tin về trình độ, khả năng mà ngƣời học thực hiện các mục tiêu học tập đ xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sƣ phạm của GV, cho nhà trƣờng và bản thân HS để gi p họ học tập tiến bộ hơn” [24; tr.