mở đầu cho một nền giáo dục tốt ”. Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu từ 6 đến 72 tháng tuổi, bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích. Ngành giáo dục luôn được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia vì giáo dục mang đến trực tiếp cho mỗi quốc gia những nhân lực, nhân tài ở mọi ngành nghề, lĩnh vực và mang tới xã hội những công dân tốt. Khởi đầu của nền giáo dục là giáo dục mầm non với học sinh ở độ tuổi là 1 -5 tuổi nên đây là được xem là hệ thống giáo dục đầu tiên trong ngành giáo dục.
Hệ thống giáo dục mầm non đặt nền móng tới tính cách và nhận thức, tình cảm … của trẻ em. giáo dục mầm non mang tích chất quyết định tới sự phát triển về mọi mặt của trẻ và ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của các mầm non tương lai của đất được và là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cho đất nước. Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi tuy trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và sử dụng để hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới, nhưng thiên hướng học tập của trẻ có thể bị hạn chế bởi nhiều yếu tố như thể chất, nhận thức và tình cảm xã hội. Việc được hưởng sự chăm sóc và phát triển tốt từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ.
Giáo dục mầm non sẽ chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng như tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú đối với 14 việc đến trường tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai đoạn giáo dục phổ thông. Đại hội lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam xác định “Giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển” [15,tr. Đó là khẳng định hết sức đúng đắn xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến của lịch sử thế giới. Từ đó đến nay nhiều hội nghị chuyên đề của Đảng tiếp tục ban hành các nghị quyết đổi mới phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Chính vì vậy sự nghiệp GD&DDT nước ta ngày càng phát triển cả về quy mô và chất lượng. - Làm cho sự phát triển GD&ĐT đúng hướng, đáp ứng các mục tiêu chiến lược GD&ĐT trong từng giai đoạn phát triển. - Làm cho tất cả các hoạt động của GD&ĐT đi vào kỷ cương và trật tự. - Đảm bảo sự công bằng trong GD&ĐT thông qua hệ thống chính sách về GD&ĐT, tạo cơ hội cho mọi người có cơ hội tham gia vào quá trình GD&ĐT.
- Đảm bảo những điều kiện vật chất to lớn cho GD&ĐT phát triển.Nhà nước là chủ thể đầu tư và là khách hàng lớn của GD&ĐT. Nhà nước là chủ thể của QLNN về GD&ĐT với hệ thống các cơ quan quyền lực mà trực tiếp là Chính phủ và hệ thống QLNN về GD&ĐT từ trung ương đến địa phương với khách thể song hành là hệ thống các cơ sở giáo dục và những người tham gia quá trình giáo dục và đào tạo. QLNN về GD&ĐT là hoạt động của chính quyền các cấp nhằm tổ chức, điều khiển thống nhất mọi lực lượng xã hội, phát huy tối đa tiềm năng xã hội, thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài “nhằm xây dựng những con người thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và 15 chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng văn hóa của con người dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; có sức khỏe, là người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời dặn của Bác Hồ”. Thế giới chúng ta càng có nhiều phát minh như vũ bão về khoa học công nghệ ứng dụng vào cuộc sống, lao động.
Từ đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực cao, có trình độ, kiến thức sâu vầ chuyên môn mới có thể vận hành được hệ thống máy móc, làm chủ được khoa học kỹ thuật. Vậy nguồn nhân lực này một lần nữa phải nhắc đến vai trò và vị trí của GD&ĐT. Giáo dục trong thế kỷ XXI là chìa khóa tiến tới một thế giới tốt đẹp hơn, vai trò của giáo dục là tiềm năng của con người, giáo dục là đìn bẩy mạnh mẽ nhất mà chúng ta cần có để tiến vào tương lai, giáo dục là quyền cơ bản nhất của con người, giáo dục là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền, dân chủ hợp tác, trí tuệ, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.Theo báo cáo của UNESCO (11/1993) tại Đại hội đồng lần thứ 27. “Đầu tư vào giáo dục sẽ tích lũy vốn con người, và là chìa khóa để tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập.
Giáo dục, đặc biệt là giáo dục cơ bản cũng góp phần làm giảm đói nghèo, nhờ tăng năng suất lao động của tầng lớp lao động nghèo, giảm sinh đẻ và tăng cường sức khỏe, giúp mọi người cùng có cơ hội tham gia đầy đủ vào hoạt động xã hội vào phát triển kinh tế” [34,tr. Từ những quan điểm trên chúng ta có thể thấy rằng sự nghiệp GD&ĐT có vị trí hết sức quan trọng và có vai trò hết sức to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, xã họi của mỗi đất nước cũng như trên toàn thế giới. Một xã hội được 16 giáo dục tốt là xã hội “Dựa trên trí thức”, phát huy được mọi tiềm năng của con người, những con người tư duy sáng tạo, năng động luôn luôn tự điều chỉnh và phát triển. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục mầm non Quản lý nhà nước về giáo dục đào ở các cấp độ khác nhau được cụ thể hóa nội dung không hoàn toàn giống nhau.
Như vậy, mặc dù nội dung Quản lý nhà nước về GD&ĐT đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục, tuy nhiên, trong thực tiễn cần nhấn mạnh các nội dung theo cấp độ quản lí, điều này xác định trọng số trọng tâm ở mỗi cấp độ. Nếu như ở cấp trung ương chú trọng đến nội dung xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho triển cho từng ngành ở phạm vi cả nước thì ở cấp độc địa phương đó là Sở - Tỉnh, Phòng – Huyện lại tập trung trong phạm vi nội dung được phân cấp, còn ở cơ sở đó là nhà trường nơi mà quản lý nhà nước được hiểu rất cụ thể là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do nhà nước ủy quyền triển khai các hoạt động quản lý nhà trường thì lại coi trọng việc tổ chức thực hiện những quy định của nhà nước mà cụ thể là điều lệ nhà trường ở những hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục cụ thể. Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước cần làm tốt công tác thể chế hóa và tăng cường việc giám sát việc thực hiện. Tuy cấp độ thể chế hóa ở mỗi cấp không hoàn toàn giống nhau nhưng vai trò giám sát, thanh tra, kiểm tra thì phải coi trọng ở mỗi cấp độ theo sự phân công rõ rang 1.
Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về GDMN Trải qua thời gian dài của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhà nước và nhân dân ta đã luôn dành cho GDMN một sự chăm lo đặc biệt. Chủ trương phát triển GDMN từ chỗ hầu như không có gì. Khi đất nước thống nhất hoàn toàn và chuyển sang nền kinh tế thị trường định 17 hướng XHCN , chủ trương phát triển sự nghiệp GDMN luôn là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Nghị quyết TW2 khóa VIII đặt ra yêu cầu đến 2020 phải “ xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi”.
Phải phấn đấu cho mục đích đó, nhưng ngay từ bây giờ phải thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ em trên cơ sở một sự phát triển đa dạng và ổn định, phải đổi mới phương thức nuôi dạy bằng những cải tiến cơ bản và toàn diện. Đó là sự cố gắng đầu tư và tăng cường sự tham gia của toàn xã hội chăm lo cho trẻ thơ.Trên cơ sở đó,Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách phát triển sự nghiếp GDMN. Quyết định 161/ 2002/ QĐ- TTg của thủ tướng chính phủ là một chủ trương thuận lợi phát triển GDMN đến 2010. Trong đó chính phủ quan tâm đến XHH GDMN : “ … đẩy mạnh XHH sự nghiệp GDMN, mở rộng hệ thống nhà trẻ và lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư …”.
Luật giáo dục năm 2005, đã được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 có hiệu lực 01/01/2006. Tại kì họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã đưa lên bàn nghị sự về vấn đề GDMN. Cũng tại kì họp này, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 35/2009/QH 12 về chủ trương, định hướng đổi mới về một số cơ chế tài chính trong giáo dục, trong đó có đề cập đến PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi, đồng thời quy định một số vấn đề cụ thể cho GDMN : “ các nguồn tài chính đầu tư cho GD bao gồm : ngân sách nhà nước ; học phí lệ phí tuyển sinh; các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ,sản xuất knh doanh, dịch vụ của các cơ sở GD; đầu tư của các tổ chức , cá nhân trong nước và ngoài nước để phát triển GD; các khoản tài trợ khác của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật”. Đồng thời, “ nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức cá nhân đầu tư đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của cho giáo dục”.