Chương 1: Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn và những vấn đề đặt ra sau 15 năm đổi mới Chương 2: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo công tác giáo dục - đào tạo từ năm 2000 đến năm 2010 Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm 6 z Chƣơng 1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HUYỆN SÓC SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU 15 NĂM ĐỔI MỚI 1. Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sóc Sơn * Vị trí địa lý và lịch sử Sóc Sơn là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 35km về phía Bắc, giới hạn từ 22043’ đến 22o46’ vĩ độ Bắc, 105075’ đến 105097’ kinh độ Đông. Phía Tây huyện giáp huyện Mê Linh (ngoại thành Hà Nội).
Phía Bắc huyện giáp huyện Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) với ranh giới tự nhiên là dòng sông Công. Phía Đông huyện giáp 2 huyện là Hiệp Hòa (Bắc Giang) và Yên Phong (Bắc Ninh) với ranh giới tự nhiên là dòng sông Cầu và sông Cà Lồ. Phía Nam huyện giáp huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) với ranh giới tự nhiên là dòng sông Cà Lồ. Ngày 5/7/1977 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178 - QĐ/ CP, hợp nhất các huyện theo vùng quy hoạch của tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo Quyết định đó, huyện Sóc Sơn được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai huyện Đa Phúc và Kim Anh. Đến ngày 1/4/1979, sau khi chiến tranh biên giới kết thúc, Chính phủ ra Quyết định chuyển huyện Sóc Sơn của tỉnh Vĩnh Phúc về trực thuộc Thành phố Hà Nội. Kể từ thời điểm đó, huyện Sóc Sơn bao gồm 25 xã và 1 Thị trấn (trung tâm Thị trấn đặt trên địa bàn của 2 xã là Phù Linh và Tiên Dược); địa giới này được giữ nguyên cho tới ngày nay với tổng diện tích tự nhiên là 30. Huyện Sóc Sơn là cửa ngõ của Thủ đô đi Tây Bắc - Việt Bắc, trở thành đầu mối giao thông quan trọng nối liền Thủ đô Hà Nội với các vùng công nghiệp, các trung tâm dịch vụ lớn trong khu vực tam giác kinh tế thông qua các tuyến đường lớn: Đường Quốc lộ 3 (đi lên Việt Bắc); Đường Quốc lộ 2 (lên Tây Bắc); Đường Đò Vát (sang Bắc Giang); Đường Cao tốc Bắc Thăng 7 z Long - Nội Bài (nối huyện Sóc Sơn với Thủ đô Hà Nội); Đường 18 (nối liền vành đai kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh).
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có Cảng hàng không Sân bay Quốc tế Nội Bài, tuyến đường quốc lộ 3 - đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh phía Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền trong, đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên chạy qua ga Đa Phúc và ga Trung Giã nằm ở hai đầu của huyện, nhiều khu công nghiệp lớn đã và sẽ hình thành. Tất cả những yếu tố đó tạo cho Sóc Sơn những điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung. Theo quy hoạch phát triển Thủ đô Hà Nội, với vị trí địa lý quan trọng như vậy, trong tương lai Sóc Sơn là một trong những hướng quan trọng để phát triển và mở rộng Thủ đô lên phía Bắc, lấy sông Hồng làm trung tâm. Đây là điều kiện thuận lợi để Sóc Sơn trao đổi, giao lưu kinh tế, văn hóa, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước tạo cơ sở nền tảng và những tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội.
Sóc Sơn thuộc vùng trung du phía Tây Nam của dãy Tam Đảo, địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia thành 3 vùng rõ rệt. Vùng gò đồi (phía Tây Bắc) bao gồm 5 xã: Bắc Sơn, Nam Sơn, Hồng Kỳ, Minh Trí, Minh Phú; đây là vùng đất có nhiều đồi núi xen kẽ những cánh đồng nhỏ hẹp, đất xói mòn, chua và bạc màu nặng: vùng này có diện tích tự nhiên là 12. Vùng đất bằng gồm 8 xã: Tân Minh, Tân Dân, Quang Tiến, Hiền Ninh, Phù Linh, Trung Giã, Mai Đình, Tiên Dược và Thị trấn Sóc Sơn; tổng diện tích đất tự nhiên của vùng này là 7. Vùng đất trũng ven sông bao gồm 12 xã: Thanh Xuân, Phù Lỗ, Việt Long, Kim Lũ, Xuân Giang, Phú Minh, Phú Cường, Đông Xuân, Đức Hòa, Tân Hưng, Xuân Thu, Bắc Phú; tổng diện tích đất tự nhiên của vùng này là 10.
Như vậy, diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 30. Với diện tích đất tự nhiên lớn như vậy, không những cho phép phát triển nền kinh tế đa dạng về loại hình 8 z mà đó còn là cơ sở, là nền móng để tiến hành xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Huyện Sóc Sơn được bao bọc bởi 4 con sông: Sông Cà Lồ (hay trong lịch sử còn gọi là sông Như Nguyệt) ở phía Nam với chiều dài 56km; sông Công ở phía Bắc với chiều dài 11km; sông Cầu ở phía Đông với chiều dài tự nhiên 13km và phía Tây là con sông Đại Lạn. Tổng chiều dài của 4 dòng sông khoảng 90km.
Sông không chỉ cung cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản…mà các dòng sông chảy qua địa bàn huyện còn tạo ra tuyến giao thông đường thủy quan trọng và thuận tiện cho việc đi lại, trao đổi buôn bán và giao lưu văn hóa giữa các vùng. Chính vì vậy, lãnh đạo huyện cần phải có những biện pháp thiết thực và cụ thể để khai thác nguồn lợi từ những dòng sông này phục vụ có hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Có thể nói, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên kể trên, huyện Sóc Sơn có những thế mạnh cần được đầu tư khai thác hiệu quả hơn để phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, để các yếu tố đó thực sự phát huy có hiệu quả cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ để có thể khai thác hết những tiềm năng mà điều kiện ấy mang lại.
Điều đó có nghĩa là sự nghiệp GD – ĐT cần phải được quan tâm chỉ đạo của Trung ương và của Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ huyện cũng cần có những chương trình hành động, những quy hoạch cụ thể, quan tâm đúng mức và đầu tư kịp thời, đúng hướng nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, phấn đấu đưa huyện Sóc Sơn trở thành huyện phát triển của Thủ đô. * Tình hình kinh tế Điều kiện tự nhiên phong phú cùng với địa hình đa dạng đã tạo ra những tiềm năng to lớn cho huyện Sóc Sơn phát triển nền kinh tế đa dạng về loại hình. 9 z Nguồn tài nguyên đất đai canh tác, tài nguyên nước, khí hậu, sông ngòi thuận lợi tạo điều kiện để phát triển nghề nông nghiệp trồng lúa nước. Mô hình kinh tế trang trại cũng đang được hình thành và đi vào phát triển: hình thành các vùng sản xuất tập trung (vùng cây ăn quả, vùng sản xuất rau tập trung, vùng sản xuất chè,.); chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp (chương trình Sind hóa đàn bò, phát triển đàn gia cầm…).
Huyện đã chỉ đạo cho các xã lập dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp của huyện nhằm giảm dần diện tích cây lương thực, tăng diện tích rau an toàn, hoa, cây cảnh, hỗ trợ kinh phí cho các mô hình chăn nuôi. Bên cạnh đó, Sóc Sơn là địa phương có rừng với diện tích 6.630ha, nhiều hồ, đập có khả năng trữ nước tưới cho cây trồng đồng thời có khả năng phát triển du lịch sinh thái. Trên địa bàn huyện đã có nhiều di tích lịch sử văn hóa được Nhà nước xếp hạng: Đền Sóc Sơn, chùa Non nước, chùa Thanh Nhàn, Núi Đôi, Việt Phủ Thành Chương… Công nghiệp và Thủ công nghiệp do huyện quản lý đạt tốc độ tăng trưởng khá, hình thành những ngành tương đối tập trung, phát huy được lợi thế của địa phương như: sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến chè, sản xuất bia, thép… Quy mô đầu tư cho các ngành này ngày càng mở rộng, máy móc công nghệ được đổi mới, sử dụng nhiều lao động, các cơ sở công nghiệp quy mô và hiện đại đã thể hiện ưu thế vượt trội so với các địa phương khác. Khu công nghiệp Nội Bài thu hút được 13 dự án của các đơn vị, đang có 11 doanh nghiệp tập trung hoạt động và một số công ty liên doanh như: YAMAHA, DAIHATSU… Trên địa bàn huyện còn có một số công ty TNHH chế biến chè xuất khẩu (Kim Anh, Thăng Long…).
Thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện cũng ngày càng được đẩy mạnh, chủ yếu là hình thức kinh doanh bán lẻ, hệ thống chợ được mở rộng (từ chợ làng, đến chợ huyện, chợ trung tâm). Các mặt hàng phong phú, nhiều 10 z hình thức khác nhau. Nhìn chung, do xu hướng đô thị hóa, đòi hỏi chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng chung khiến cho hoạt động thương mại và dịch vụ cũng trở nên phong phú và sôi nổi. Tuy nhiên, mạng lưới thương mại và dịch vụ của huyện còn mang tính tự phát, tự đáp ứng nhu cầu tối cần thiết của người dân, chưa thực sự đi sâu vào phát triển đa dạng các mặt hàng, nâng cao chất lượng phục vụ, chưa khai thác được hết tiềm năng phát triển của huyện.
* Dân cư và lao động Là huyện ngoại thành xa trung tâm Thủ đô, có diện tích lớn 314km2, địa hình và các điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú song cũng có nhiều khó khăn. Tính đến cuối năm 2003, tổng dân số trên địa bàn huyện khoảng 258.099 người, phân bố trên 25 xã và 1 Thị trấn. Toàn huyện có khoảng 149.697 người trong độ tuổi lao động, độ tuổi trung bình của lao động rất trẻ. Tỉ lệ sinh và số khẩu bình quân/hộ của huyện còn khá cao, trong những năm gần đây, tỉ lệ sinh có giảm đi song công tác kế hoạch hóa gia đình của huyện cần phát huy hơn nữa nhằm giảm tỉ lệ sinh con thứ 3 góp phần ổn định đời sống của nhân dân.
Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1991 – 1995 là 1,35%; giai đoạn 1996 – 2000 là 1,4%; và giai đoạn 2001 – 2003 là 1,25%.