CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển vượt bậc, trong đó nền kinh tế tri thức đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của quốc gia. Từ giữa thế kỷ XX vào thập niên 80, vấn đề kiểm tra - đánh giá học sinh đã có những bước đột phá quan trọng về quan điểm, phương pháp, triết lý, các hoạt động cụ thể nhằm đánh giá người học và quá trình học tập, xem đây là vấn đề quan trọng nhất trong quá trình dạy học.
Kiểm tra (KT) - đánh giá (ĐG) giáo dục nói chung và đánh giá kết quả học tập nói riêng có một vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục. Vấn đề kiểm tra đánh giá theo môn học ngày càng được quan tâm. Kết quả của những nghiên cứu này thường tập trung nhấn mạnh vào các khía cạnh sau: (1) Kiểm tra đánh giá thường xuyên trong đào tạo, một mặt giúp người dạy và người học có được các thông tin phản hồi kịp thời để điều chỉnh hoạt động giảng dạy và học tập; mặt khác thúc đẩy tính tích cực và chủ động trong học tập của học sinh, hiệu quả dạy học tăng lên và áp lực của kiểm tra cuối kỳ được giảm nhẹ; (2) Đề cương môn học như là một công cụ để dạy học. Đề cương môn học phải chỉ rõ thời gian, hình thức kiểm tra,quy định và yêu cầu của từng bài kiểm tra,cách đánh giá, trọng số đánh giá kết quả học tập của từng phần.
Căn cứ vào đó, người dạy và người học tự lập kế hoạch dạy – học của mình. Đồng thời, các hình thức kiểm tra – đánh giá cần đa dạng và thời gian thực hiện kiểm tra – đánh giá cần đa dạng và thời gian thực hiện kiểm tra – đánh giá cũng cần thực hiện thường xuyên theo tuần, tháng, giữa kỳ, cuối kỳ; (3) Cần thực hiện đánh giá thường xuyên trong tiến trình dạy học cùng với các phương pháp khác như đánh giá tổng kết và người học tự đánh giá kết quả học tập theo danh sách các mục tiêu phải đạt của môn học. Các nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá trên thế giới Việc KT-ĐG kết quả học tập hoàn toàn giao cho GV và HS chủ động, PP đánh giá được sử dụng đa dạng, sáng tạo và linh hoạt. Xu hướng đánh giá mới của thế giới là đánh giá dựa theo năng lực (Competence base assessment), tức là đánh giá khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó.
ĐG năng lực nhằm giúp GV có thông tin kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động giảng dạy; giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập; giúp GV và nhà trường xác nhận, xếp hạng kết quả học tập. Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh KT-ĐG quá trình bằng các hình thức, phương pháp đánh giá không truyền thống như quan sát, phỏng vấn, hồ sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều người cùng tham gia, HS tự đánh giá. ĐG kết quả học tập thông qua dự án hoặc nghiên cứu nhóm được chú trọng. Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, để KT-ĐG mức độ tiếp nhận và cảm thụ văn học của HS về một tác phẩm nào đó, GV yêu cầu HS thành lập nhóm để phân tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm đó và có thể lập dự án tham quan bảo tàng của nhà văn, nhà thơ.
Qua phân tích tác phẩm và qua chuyến tham quan, HS viết thu hoạch, trình bày kết quả nghiên cứu của nhóm trước lớp. Với cách này, HS có quyền tự do làm bài theo hiểu biết của mình, trao đổi, tương tác với nhau, tìm hiểu từ thực tế, vận dụng nhiều kiến thức của nhiều môn học khác nhau, hợp tác nghiên cứu có thể đưa ra nhiều nhận định sáng tạo. Đây là hình thức học tập mang tính tích hợp cao, GV và HS cùng tham gia KT-ĐG kết quả của từng nhóm. Ở Liên Xô trước đây, các công trình nghiên cứu KT-ĐG về lĩnh vực tri thức của học sinh xuất hiện từ những thập niên 30 – 40 của thế kỷ XX.
Arkhalghelxki đã nghiên cứu về “Kiểm tra và đánh giá tri thức học sinh các trường tiểu học và trung học” năm 1938 đã đưa ra hệ thống phương pháp đánh giá tri thức của học sinh với các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề chất lượng đánh giá. Cũng vào năm này, X. Ivanov trong “Kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh” cũng đã đề cập đến các vấn đề về vị trí, tầm quan trọng của đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; trong đó tác giả đã Luan van 9 đưa ra một số tiêu chuẩn chung của việc đánh giá tri thức (Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, 1986). Các nhà khoa học giáo dục khác lại đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh cụ thể của việc KT-ĐG, chẳng hạn: Các nhà giáo dục I.
Krirosava nghiên cứu về các nguyên tắc cơ bản trong KT, ĐG tri thức của học sinh như: nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính liên tục, nguyên tắc đảm bảo tính khách quan…; A. nghiên cứu về tính khách quan trong việc cho điểm học sinh của người giáo viên Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, 1986). Không tách rời việc ĐG KQHT của học sinh là sự kiểm tra vì nó là một trong những phương tiện quan trọng để đánh giá. Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề KT, đặc biệt là quá trình xây dựng và sử dụng hệ thống trắc nghiệm được đưa vào phát triển rộng rãi vào thập niên 60 của thế kỷ XX, sau khi Benjamin Bloom và các đồng nghiệp của ông đã đưa ra cách phân loại mục tiêu giáo dục một cách cụ thể với ba lĩnh vực: nhận thức, tâm vận và tình cảm.
Lĩnh vực nhận thức được quan tâm hơn hết, và phương pháp trắc nghiệm được sử dụng để ĐG lĩnh vực này. Nghiên cứu khoa học về trắc nghiệm có các công trình khoa học như Q. Các nghiên cứu này tập trung vào trắc nghiệm trong lớp học và trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá, trong đó các tác giả tập trung nghiên cứu về các loại câu hỏi trắc nghiệm, ưu điểm và hạn chế của câu hỏi trắc nghiệm, đồng thời tìm hiểu những kỹ thuật cơ bản về đo lường kết quả học tập bằng trắc nghiệm (Ebel R. Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học về đo lường và đánh giá KQHT như các nghiên cứu của một số nhà khoa học khác "lại đi sâu vào sử dụng trắc nghiệm để đo lường các lĩnh vực của mục tiêu giáo dục với các nguyên tắc, kỹ thuật xác định và sử dụng toán thống kê để phân tích giá trị điểm số thu được nhằm giúp cho đánh giá được chính xác (Erwin T.
Stanley, Luan van 10 1981; W. Còn công trình nghiên cứu của S. Ostrelind về vấn đề xây dựng câu trắc nghiệm (Ostrelind S. Trước năm 1990, các công trình về KT-ĐG rất đa dạng, phong phú nhưng tập trung vào KT-ĐG khả năng trí nhớ của HS mà chưa quan tâm đến HS sử dụng, vận dụng tri thức đó như thế nào trong thực tiễn cuộc sống.
Các nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá ở Việt Nam Vào thập niên 60 của thế kỷ XIX, nền giáo dục Việt Nam đã có những nghiên cứu về lý luận chung của giáo dục học trong đó có vấn đề lý luận KT-ĐG kết quả học tập của HS. Có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận chung và cụ thể về KT-ĐG như “Đảm bảo tính khách quan của quá trình kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh” (Hà Thị Đức, 1989, tr.21-22); hay “Cơ sở lý luận của việc đánh gia chất lượng học tập của học sinh phổ thông” (Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc, 1995); “Đánh giá trong giáo dục” (Trần Bá Hoành, 1995); “Kiểm tra - đánh giá trong dạy - học đại học” (Đặng Bá Lãm, 2003); “Đánh giá và đo lường kết quả học tập” (Trần Thị Tuyết Oanh, 2007); “Đánh giá chất lượng giáo dục: nội dung – phương pháp - kỹ thuật” (Trần Thị Bích Liễu, 2007); vấn đề nghiên cứu “Đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Nguyễn Thị Lan Phương, 2011). Một số nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng câu hỏi để KT-ĐG kết quả học tập, hay quy trình xây dựng đề KT-ĐG học sinh phổ thông như “Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp kiểm tra, đánh giá việc học tập của hôc sinh” (Nguyễn Đình Chỉnh, 1995); hay nghiên cứu “Quy trình xây dựng đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông” (Lê Thị Mỹ Hà, 2010, tr. Ngoài ra, không thể không kể đến các nghiên cứu của Dương Thiệu Tống sử dụng phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan (TNKQ) để ĐG kết quả học tập của học sinh “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (Dương Thiệu Tống, 2005); “Trắc nghiệm với việc cải tiến phương pháp đánh giá thành quả học tập” (Lưu Xuân Mới, 1996, tr.15); nghiên cứu “Khả năng ứng dụng kỹ thuật test ở bậc đại học nước ta” (Nghiêm Xuân Nùng, 1994, tr.11); “Khả năng sử dụng phương pháp trắc nghiệm Luan van 11 khách quan để đánh giá kết quả học tập” (Nguyễn Hoàng Bảo Thanh, 1997, tr.18); “Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào đánh giá kết quả học tập của sinh viên ĐHSP Vinh” (Phạm Minh Hùng, 1997, tr.19); “Những trắc nghiệm tâm lý” (Ngô Công Hoàn, 1997); nghiên cứu về “Xây dựng hệ thống trắc nghiệm tâm lý” (Nguyễn Văn Thàng, 1994); “Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” (Phan Trọng Ngọ, 2005); “Nghiên cứu định chuẩn và công cụ kiểm tra đánh giá môn tâm lý học của sinh viên trường ĐHNN-ĐHQG Hà Nội” (Đỗ Thị Châu, 2007).
Các nghiên cứu trên chú trọng đến KT-ĐG ở nhiều môn học khác nhau. Nhiều nhà giáo dục khác cũng có những công trình có giá trị, nghiên cứu toàn diện vấn đề ĐG và đổi mới ĐG, từ thống nhất khái niệm KT, ĐG, đo lường, chuẩn ĐG, đổi mới.đã đi sâu phân tích ưu điểm (và hạn chế) của việc đổi mới phương pháp KT bằng TNKQ. như Lâm Quang Thiệp với "Trắc nghiệm và ứng dụng"( Lâm Quang Thiệp, 2003).