Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ khi xuất hiện mô hình nhà trường thì cũng là thời điểm các hình thức đánh giá người học từ đó cũng ra đời. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia đều có các hình thức đánh giá khác nhau nhưng về cơ bản đều đưa ra những quy định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của giáo dục chung và của xã hội hiện tại.
Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra theo các quy định nghiêm ngặt để đánh giá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợp với trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy và học, có vai trò khuyến khích tính tích cực, tự giác của học sinh; Thời kì hậu công nghiệp đánh giá phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương trình giảng dạy. Hiện nay ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới luôn ưu tiên quan tâm cho giáo dục mầm non. Giáo dục mầm non ở các nước đó được coi là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Xu hướng tập trung đánh giá quá trình phát triển của trẻ và xác định những vấn đề đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ được chú trọng đặc biệt.
Có thể kể đến một số nghiên cứu ở các nước trên thế giới như sau: Tại trường mầm non ở Mỹ, cách đánh giá sự sẵn sàng vào học lớp 1 của trẻ được chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Ví dụ, để thu thập thông tin đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ giáo viên hỏi trẻ về trường hợp chữ viết thường và chữ viết hoa, cách phát âm chữ cái. Trẻ cũng được yêu cầu viết tên mình, cắt một hình tròn và xác định các chữ cái, con số [19]. Ở Đức, mức độ sẵn sàng cho lớp một lại được đánh giá hoàn toàn khác, trẻ được yêu cầu đếm đồ vật thay cho việc phải nhận diện mặt số.
Trẻ được kiểm 6 tra khả năng phân biệt giữa các hình dạng khác nhau và vẽ một số vật thể đơn giản [19]. Các nhà giáo dục mầm non ở Úc dùng các chiến lược đa dạng nhằm thu thập, ghi chép, tổ chức, tổng hợp và diễn dịch thông tin thu được để đánh giá việc học của trẻ tại lớp. Những quy trình đánh giá liên tục bao gồm nhiều phương pháp đa dạng ghi nhận và đánh giá các cách khác nhau mà trẻ sử dụng để đạt được những kết quả này. Các quy trình này không chỉ tập trung duy nhất vào những giai đoạn cuối cùng trong việc học của trẻ mà cũng còn để xem xét những tiến bộ từng bước của từng trẻ, ghi nhận và trân trọng không chỉ những bước tiến bộ vượt bậc mà trẻ đạt được trong việc học mà cả những tiến bộ nhỏ của trẻ nữa [19].
Điều đặc biệt của hệ thống giáo dục mầm non ở Hàn Quốc là “Giáo dục phụ mẫu”. Vào cuối mỗi kì học, từng gia đình đăng kí để họp một buổi riêng với cô giáo phụ trách. Tương tự, ở Singapore, theo quy định bắt buộc của nhà trường, hàng tháng phải có sự giao lưu giữa giáo viên và phụ huynh. Trong những buổi gặp gỡ đó, giáo viên làm nhiệm vụ thông báo, trao đổi cặn kẽ với bố mẹ về tất cả kết quả học tập cũng như các vấn để của từng trẻ.
Điều đó có nghĩa là giáo viên mầm non ở Hàn Quốc, ở Singapore sẽ phải thường xuyên thu thập thông tin (phương pháp portiolio) về những khả năng của cá nhân trẻ trong trường mầm non, về sự phát triển của trẻ để trao đổi với phụ huynh nhằm phối hợp cùng nhau trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp và hiệu quả [19]. Các nghiên cứu trong nước Nhiều nghiên của các nhà khoa học trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận QLGD, giáo dục Đại học, quản lý nhà trường, quản lý chất lượng giáo dục; có nhiều công trình xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá của người học. Trong cuốn “Quản lý giáo dục”, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã chỉ ra sự khác biệt trong quản lý giáo dục với quản lý kinh tế xã hội: “Trong giáo dục, rất 7 khó đo lường, đánh giá việc đạt được các mục đích. Trong các trường học có khá nhiều nhân tố cản trở việc đánh giá trực tiếp thành tựu hay mức độ đạt được mục tiêu.Việc thiếu những căn cứ chấp nhận được trong việc đánh giá sẽ tạo nên những khó khăn nghiêm trọng trong quản lý ” [17].
Trong cuốn “Quản lý chất lượng trong giáo dục - đào tạo”, tác giả Nguyễn Đức Chính nêu: “Nếu như kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý chất lượng phù hợp với cơ chế tập trung; quản lý chất lượng tổng thể phản ánh trình độ phát triển cao của các trường học thì bảo đảm chất lượng phù hợp với cơ chế chuyển đổi trong quản lý giáo dục ở nước ta” [7]. Trong cuốn “Đo lường - đánh giá trong giáo dục”, tác giả Nguyễn Đức Chính cho rằng: “Đánh giá giáo dục vừa là một lĩnh vực nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, vừa là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục nhằm phán đoán giá trị của sự nghiệp giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của sự nghiệp giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng xã hội” [8]. Trong tài liệu “Các kỹ thuật đánh giá trong lớp học” tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích cùng nhóm nghiên cứu đã khẳng định “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục có giá trị không chỉ cho người dạy, người học mà còn cả nhà quản lý. Đây cũng là khâu quan trọng tác động lớn đến quá trình nâng cao chất lượng đào tạo.
Việc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc, đúng cách, đúng hướng sẽ là động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong học tập của người học, thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo không ngừng của người học. Đối với chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam hiện nay, mục tiêu đánh giá được phân chia thành ba lĩnh vực là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Mỗi mục tiêu thuộc lĩnh vực lại được diễn tả cụ thể hơn bởi các chuẩn kiến thức, kỹ năng. Bên cạnh mục tiêu được phân chia như trên, cần hướng tới mục tiêu đánh giá theo cách tiếp cận năng lực” [2].
Trong công trình nghiên cứu “Về việc chuẩn bị cho trẻ mầm non đến trường phổ thông” do phòng Tâm lý-Viện nghiên cứu trẻ em trước tuổi học tiến 8 hành năm 1992-1993 đã sử dụng bộ test “Đến tuổi học” và một số trắc nghiệm thích hợp để đánh giá sự chuẩn bị của trẻ đã học mầm non với việc đến trường phổ thông. Phan Lan Anh “Đánh giá trong giáo dục mầm non” (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo) Tác giả đã giới thiệu những vấn đề chung về đánh giá trong giáo dục mầm non và đưa ra các chỉ dẫn cụ thể về việc xây dựng công cụ cho giáo viên mầm non tiến hành đánh giá sự phát triển của trẻ với hai hình thức đánh giá là: đánh giá hàng ngày và đánh giá sau chủ đề đối với trẻ mầm non [1]. Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá người học nhưng lại tập trung vào bậc học phổ thông và giáo dục đại học như: Tác giả Ngô Quang Sơn với luận án “Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của HV trong đào tạo trực tuyến ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay” [20]; tác giả Cấn Thị Thanh Hương với luận án “Nghiên cứu quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam” [15]; tác giả Mai Danh Huấn với luận án “Xây dựng và quản lý quy trình kiểm tra đánh giá thành tích học tập của sinh viên hệ chính quy, phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ” [14]… Những nghiên cứu trên của các tác giả mặc dù đã tiếp cận dưới góc độ của khoa học QLGD, song chưa có công trình nào khái quát một cách toàn diện, sâu sắc về quản lý đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Trong thực tiễn thuật ngữ "quản lý" có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau: "Quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; "Lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển. 9 Dưới góc độ khoa học, khái niệm QL được hiểu theo nhiều cách khác nhau: - Theo tác giả Harol Koontz: QL là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu của tổ chức. Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [12].
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra [10]. - Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “QL là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động". - Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5]. Từ các quan niệm trên có thể khái quát: QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt tới mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục (QLGD) theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm ðẩy mạnh công tác ðào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ chức được hoạt động giáo dục, thực hiện được các tính chất của nhà trường mới quản lý được giáo dục.