CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu văn hóa nhà trường Giáo dục gắn liền với lịch sử loài người. Đối với nhân loại, giáo dục là phương thức bảo tồn và bảo vệ kho tàng tri thức văn hoá xã hội.
Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời, trải qua các thời kỳ lịch sử, cộng đồng người Việt đã tiếp thu và chọn lọc, hình thành nên đạo đức, tư tưởng văn hóa Việt Nam. Nền tảng văn hóa ấy đã tạo nên bản sắc về nhân cách con người Việt Nam. Xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức hành chính - sư phạm. Khía cạnh tổ chức với đặc điểm như cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm độc đáo của các cá nhân, những hoạt động chung, tạo nên những đặc điểm của tổ chức.
Ở Việt Nam, VHNT là một khái niệm xuất hiện trong nhiều chục năm gần đây, nhưng nội hàm của nó thì đã được đề cập từ lâu, trong nhiều tình huống của giáo dục và đào tạo, nhất là ở thời kỳ đổi mới. VHNT đã được các nhà nghiên cứu giáo dục coi là một yếu tố rất cơ bản của cơ chế phát triển đối với từng nhà trường cũng như của toàn hệ thống các trường học nói chung, nó làm nền tảng và định hướng cho sự phát triển và tiến bộ của nhà trường, và là một động lực quan trọng để thực hiện đổi mới QLGD ở từng nhà trường. Các trường THCS trên địa bàn huyện Sóc Sơn bên cạnh những thành tích đạt được, vẫn còn những khó khăn, tồn tại nhất định, đòi hỏi phải tập trung chỉ đạo khắc phục trong năm học tới và những năm học tiếp theo, đó là: Trình độ quản lý của đội ngũ CBQL chưa đồng đều. Một số ít cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về năng lực quản lý, điều hành.
Chất lượng giáo dục toàn diện tuy đã được cải thiện song chỉ đạt mức TB của thành phố. Chất lượng mũi nhọn chưa cao. Chất lượng đại trà chưa đồng đều giữa các vùng của huyện. 6 Tỷ lệ GV có trình độ trên chuẩn cao nhưng mới dừng lại ở chuẩn về đào tạo.
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều. Vẫn còn một số giáo viên chưa thực sự cố gắng phấn đấu rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành. Vẫn còn tình trạng giáo viên môn thừa, môn thiếu, mất cân đối giữa các môn học. Cơ sở vật chất vẫn chưa đáp ứng được với sự đổi mới giáo dục.
Công tác quản lý và xây dựng văn hóa nhà trường còn yếu về mặt lý luận, phường pháp, việc xây dựng kế hoạch xây dựng và quản lý văn hóa nhà trường chưa được quan tâm. Trên địa bàn huyện Sóc Sơn cấp học trung học cơ sở của huyện có 27 trường với 551 lớp và 22. Với quy mô, số lượng trường lớp hiện tại, về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu, đảm bảo điều kiện học tập và có đủ chỗ học cho học sinh. Với cơ sở vật chất hiện có, các nhà trường đủ điều kiện triển khai các hoạt động giáo dục.
Hiện tại một số nhà trường đang xây mới các phòng chức năng, nâng cấp phòng học bộ môn, mua bổ sung các trang thiết bị phục vụ các hoạt động trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tuy nhiên có nhiều mặt còn hạn chế, như: - Trình độ quản lý của đội ngũ CBQL chưa đồng đều. Một số ít cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về năng lực quản lý, điều hành. - Chất lượng giáo dục toàn diện tuy đã được cải thiện song chỉ đạt mức TB của thành phố. Chất lượng mũi nhọn chưa cao.
Chất lượng đại trà chưa đồng đều giữa các vùng của huyện. Những yếu tố trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc quản lý văn hóa nhà trường còn chưa được quan tâm. VHNT từ lâu cũng đã được nghiên cứu ở nước ta nhưng là nghiên cứu ở một số khía cạnh, biểu hiện cụ thể đơn lẻ như văn hóa học đường, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp… trong nhà trường. Có thể kể đến công trình “Giáo dục giá trị - xây dựng văn hóa học đường” của tác giả Phạm Minh Hạc; “Văn hóa giao tiếp trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân;“Văn hóa tổ chức – hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường” của Phạm Quang Huân;“Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học” của tác giả Đỗ Huy; “Môi trường giáo dục” của tác giả Phạm Đoan Hùng “; “Xây dựng văn hóa học 7 đường - Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường” của Viện Nghiên cứu sư phạm - Trường ĐHSP Hà Nội; “Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở” của tác giả Văn Đức Thanh.
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu trên đây chưa phải là những khảo cứu chuyên sâu về VHNT, nhất là chưa đề cập đến công tác quản lý VHNT ở các trường THCS. Nghiên cứu về quản lý văn hóa nhà trường Quản lý VHNT là một nội dung quan trọng của quản lý và lãnh đạo nhà trường. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước nghiên cứu vấn đề này. VHNT với tính trọn vẹn như văn hóa của một tổ chức đã được đề cập đến trong các nghiên cứu gần đây về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.
Chẳng hạn: - Công trình Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý giáo dục của Trần Kiểm (2008): tác giả xem xét văn hóa nhà trường và xây dựng văn hóa nhà trường là một vấn đề trong quản lý nhà trường với tính cách là một tổ chức. Văn hóa nhà trường tác động đến tình cảm, suy nghĩa, hành động của các cá nhân. Các yếu tố nhận thức – hành vi – thái độ là bộ ba cấu thành nên văn hóa tổ chức và được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tổ bên trong và với môi trường bên ngoài của tổ chức.[11] - Cuốn sách “Quản lý văn hóa nhà trường” của Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Vũ Bích Hiền (đồng chủ biên 2019), trình bày hệ thống những vấn đề lý thuyết chung về văn hóa nhà trường, những đặc điểm về văn hóa nhà trường ở Việt Nam, văn hóa trường đại học, đặc biệt đề cập đến xây dựng văn hóa nhà trường hiện nay, xu hướng phát triển nhà trường và văn hóa nhà trường hiện nay. Cuốn sách cung cấp những nền tảng cơ bản về văn hóa nói chung và văn hóa các nhà trường ở Việt Nam nói riêng.
Đó là những lý luận cơ bản mà luận văn kế thừa trong xây dựng khung lý luận của đề tài. [15] - Trong kỷ yếu Kỷ yếu Hội thảo văn hóa học đường, bài “Văn hóa tổ chức - hình thái cốt lõi của VHNT” tác giả Phạm Quang Huân (2007), đưa ra 5 lí do để khẳng định tầm quan trọng của VHNT đối với chất lượng giáo dục và 7 biểu hiện 8 trong hình thái và cấp độ biểu hiện của VHNT. Từ đó khẳng định, VHNT là văn hóa của một tổ chức, là tài sản lớn của bất kì một tổ chức nào. VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát; VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột, văn hóa nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trường; VHNT tạo động lực làm việc,.
[9] Như vậy, các nghiên cứu nói trên tập trung làm rõ: 1. Những vấn đề lý luận của VHNH như: khái niệm, vai trò, cấu trúc, biểu hiện và các cấp độ của VHNT,…); 2. Nghiên cứu và xây dựng các con đường, biện pháp, công cụ, các hướng dẫn trong xây dựng và đánh giá VHNT như những gợi ý hay hướng dẫn để các nhà trường có thể áp dụng vào điều kiện thực tế của trường mình. Thành tựu các nghiên cứu trên là cơ sở để triển khai các nghiên cứu xây dựng văn hóa nhà trường ở các địa bàn, khu vực cụ thể với những đặc trưng về con người, kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương.
Cho đến nay, mặc dù được quan tâm xong chưa có nghiên cứu nào có tính hệ thống trong phân tích thực trạng cũng như đề xuất giải pháp cho xây dựng VHNT một cách bài bản dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học. Điều này ít nhiều gây ra khó khăn cho CBQL các nhà trường trong vấn đề xây dựng môi trường văn hóa nhà trường thích ứng với yêu cầu mới hiện nay. Chính vì lẽ đó, luận văn được nghiên cứu nhằm tìm kiếm các biện pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Sóc Sơn để đề ra những biện pháp có tính khả thi, góp phần hiện thực hóa mục tiêu giáo dục các trường hiện nay. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Khái niệm quản lý được đề cập dưới nhiều góc độ nghiên cứu. Tác giả Đặng Quốc Bảo chỉ ra rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động” và “Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra”. Từ đó khẳng định “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) tới đối tượng quản lý - trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Nói đến quản lý là đề cập đến hệ thống bao gồm: chủ thể; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công cụ, phương tiện quản lý; cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình) và môi trường quản lý. Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý. Quản lý giáo dục Khái niệm “Quản lý giáo dục” được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra dưới các góc độ khác nhau: Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định”.