MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chất lượng đào tạo đang là mối quan tâm của toàn xã hội và trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu trong các cơ sở đào tạo, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế như hiện nay. Mọi hoạt động đào tạo được thực hiện đều hướng tới CLĐT đảm bảo thương hiệu của mỗi cơ sở đào tạo. Trường cao đẳng là nơi trực tiếp tạo ra và chịu trách nhiệm về CLĐT, tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua thực trạng CLĐT chưa đáp ứng được nhu cầu của TTLĐ cũng như của nền kinh tế - xã hội và một trong nguyên nhân chính là hệ thống BĐCL của các trường cao đẳng chưa đáp ứng được yêu cầu.
Trong những năm gần đây, BĐCL trong GDNN đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là BĐCL đào tạo đáp ứng nhu cầu của TTLĐ. Lý do là, nền kinh tế trí thức đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực qua đào tạo để có thể làm việc trong các môi trường khác nhau và được chấp nhận theo từng trình độ đào tạo trên toàn thế giới. Đảm bảo chất lượng luôn được xem là một giải pháp QLCL đào tạo tiên tiến, nhằm đưa ra những đánh giá tin cậy giúp cho công tác quản lý, giám sát CLĐT đạt hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy, các trường cao đẳng phải luôn phấn đấu đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế để đảm bảo rằng sinh viên ra trường có CLĐT cao và được quốc tế công nhận.
Do đó, BĐCL đã trở thành một trọng tâm của các mối quan tâm trong tất cả các trường cao đẳng. Xây dựng và phát triển và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng trong cơ sở GDNN là một quá trình liên tục nhằm bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Đặc biệt, đối với các trường cao đẳng thì việc xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng vừa là nhiệm vụ và trách nhiệm. Chính vì vậy, Trường cao đẳng cần quan tâm thực hiện xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng theo quy định của Bộ LĐTBXH tại Thông tư số 28/2017/TT-BLĐTBXH tiếp cận với các mô hình chính vận dụng trong bảo đảm chất lượng trường cao đẳng, trong đó có mô hình bảo đảm chất lượng AUN-QA.
Hệ thống bảo đảm chất lượng luôn được rà soát, đánh giá và cải tiến liên tục cho án tiến sĩ 2024 2 phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ, chiến lược phát triển trường sẽ giúp chất lượng đào tạo của Nhà trường luôn được đảm bảo và không ngừng nâng cao, đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực có tiềm lực khoa học công nghệ, ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ công tác xây dựng Chính phủ điện tử, xã hội số và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, nhất là nguồn nhân lực có trình độ kỹ năng nghề. Các trường cao đẳng phải luôn phấn đấu đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế để đảm bảo rằng sinh viên ra trường có chất lượng đào tạo cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và được quốc tế công nhận. Bảo đảm chất lượng nói chung và bảo đảm chất lượng trường cao đẳng nói riêng đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ công đồng thông qua cải tiến chất lượng, góp phần hình thành và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành/lĩnh vực, địa phương, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay ở Việt Nam. Điều đáng ghi nhận là hiện nay phải có đơn vị BĐCL trong cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng là yêu cầu bắt buộc được qui định trong Điều lệ và quy chế tổ chức hoạt động của trường cao đẳng.
Với quy định này, cho đến nay hệ thống BĐCL GDNN tại Việt Nam đã và đang từng bước hoàn chỉnh, với bộ phận BĐCL bên trong ở tất cả các trường và các cơ quan BĐCL bên ngoài - Đây cũng chính là yêu cầu đầu tiên trong bộ tiêu chuẩn chất lượng của mạng lưới các trường đại học, cao đẳng Đông Nam Á. Mạng lưới bảo đảm chất lượng các trường đại học Đông Nam Á (AUN - ASEAN University Network) được thành lập năm 1995 bởi các Bộ trưởng Giáo dục và các Hiệu trưởng của các trường đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á, với mục đích: Thúc đẩy hợp tác, nâng cao CLĐT và nghiên cứu giữa các trường đại học, cao đẳng trong khu vực, là đầu mối phối hợp các hoạt động để thực hiện nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn chất lượng GDĐT và tìm kiếm các biện pháp CTCL liên tục của các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2004, Tiêu chuẩn Mạng lưới bảo đảm các trường đại học Đông Nam Á (ASEAN án tiến sĩ 2024 3 University Network - Quality Assurance (viết tắt là AUN-QA)) được ban hành. Từ năm 2006 đến nay, Bộ tiêu chuẩn AUN - QA được áp dụng, với mục đích là thúc đẩy công tác đảm bảo chất lượng, thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực.
Công tác QLCL trong các trường cao đẳng phần lớn vẫn nặng theo mô hình quản lý truyền thống, xây dựng các quy định QLCL Nhà trường dựa trên hệ thống các quy định của Nhà nước (chiếm 79,7%). Bên cạnh đó, đã có một số trường áp dụng các tiêu chuẩn và quy trình hóa nội dung quản lý theo các tiêu chuẩn của các trường có uy tín trên thế giới để công bố thực hiện trong cơ sở đào tạo của mình. Qua phân tích thực trạng công tác QLCL trong trường cao đẳng cho thấy, bên cạnh hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, ngoài vai trò quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước thì vai trò, trách nhiệm và quản lý của Nhà trường có ý nghĩa quyết định đến CLĐT. Mặc dù các trường đã có quan tâm đến hoạt động quản lý ở đa số các lĩnh vực hoạt động trong nhà trường song vẫn mang tính độc lập, đơn lẻ, thiếu gắn kết.
Hiện nhiều trường cao đẳng chưa xây dựng và áp dụng hệ thống QLCL trong nhà trường một cách tổng thể, đồng bộ nhằm kiểm soát và BĐCL đào tạo của mình. Có thể thấy trước những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo GDĐT, công tác BĐCL tại các trường cao đẳng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, đặc biệt là chưa thể hiện tính hệ thống, đồng bộ, cập nhật thường xuyên và liên tục. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó có một trong những nguyên nhân chủ yếu là việc vận dụng phương pháp tiếp cận hợp lý trong công tác BĐCL tại các trường cao đẳng là chưa hiệu quả, đẫn đến hệ quả là đào tạo chưa thực sự gắn với tuyển dụng và NCXH, chất lượng sinh viên sau tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Những bất cập nêu trên, đòi hỏi các trường cao đẳng cần đổi mới trong công tác quản lý, phương pháp tiếp cận công tác BĐCL.
Việc xây dựng hệ thống BĐCL trong nhà trường là cơ hội để các trường tiếp cận mô hình quản lý hiện đại, nhấn mạnh vai trò của nhà quản lý, gắn kết sự tham gia của tất cả các thành viên trong trường nhằm giải quyết các vấn đề quản lý một cách đồng bộ, khoa học, không ngừng cải tiến đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. án tiến sĩ 2024 4 Trong những năm qua, nền kinh tế của thành phố Hải Phòng có sự phát triển vượt bậc, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của thành phố đã và đang thu hút nhiều dự án quan trọng. Thực tế đòi hỏi cần phải có nguồn lao động tăng cả về số lượng và chất lượng, đó là đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, đội ngũ công chức tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, những nhà lãnh đạo, quản lý có năng lực.Nhận thức về tầm quan trọng của việc đào tạo, phát triển nguồn lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố, Thành ủy, Hội đồng nhân dân và UBND thành phố đã quan tâm, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, chính sách thúc đẩy đổi mới mục tiêu hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đào tạo lao động có tay nghề cao; gắn GDNN với giải quyết việc làm theo yêu cầu của doanh nghiệp. Qua đó, công tác GDNN trên địa bàn thành phố đang chuyển động tích cực về quy mô tuyển sinh, chất lượng và hiệu quả đào tạo, được sự đồng thuận của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người lao động; người lao động sau khi tốt nghiệp học nghề từng bước được doanh nghiệp ghi nhận và ở một số vị trí việc làm trong các dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp, người lao động đã có thể đảm đương thực hiện thay vì lao động nước ngoài thực hiện như trước đây.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: chất lượng nguồn lao động qua đào tạo nghề nhìn chung vẫn chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu của sản xuất và dịch vụ; số lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ từ 03 tháng trở lên thấp so với tổng số lao động của thành phố; cơ cấu trình độ và nghề đào tạo chưa hợp lý, chưa gắn bó hữu cơ với nhu cầu lao động của từng ngành, từng địa phương. Thiếu chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề; chưa thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề. Việc hợp tác liên doanh, liên kết đào tạo GDNN chưa đạt hiệu quả cao.