Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu trên thế giới Lịch sử nhân loại đã chứng minh quản lý có một vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá đến mọi hoạt động của đời sống xã hội. Các Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung chừng nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ CSVC, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9]. Theo tác giả Peter Drucker, một cây đại thụ về quản lý thời hiện đại, người quản lý giáo dục cần phải rèn luyện bốn kĩ năng là: Đưa ra những quyết sách có hiệu quả; Trao đổi thông tin trong và ngoài tổ chức; Vận dụng một cách đúng đắn các công cụ phân tích; Vận dụng một cách sáng tạo công cụ KT (kiểm tra) và đánh giá. Quản lý nói chung, QLGD nói riêng đều có những chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo và KT.Về tầm quan trọng của chức năng KT Lênin viết: “Chúng ta phải tổ chức kiểm tra nghiêm ngặt công tác của chúng ta. phải kiểm tra thực sự đúng đắn trên quan điểm nền kinh tế quốc dân mà kiểm tra; Phải kiểm tra lại chủ trương của chúng ta đã công bố từng giờ, từng phút, từng giây.
Ban thanh tra công nông không chỉ có nhiệm vụ ,thậm chí không phải nhiệm vụ tóm bắt và vạch mặt mà phải cải tổ Bộ dân uỷ thanh tra công nông để tăng cường sự kiểm tra từ phía quần chúng nhằm tiêu diệt thứ cỏ dại của chủ nghĩa quan liêu” [37]. Ở nước ngoài hoạt động KTNB trường học mà nòng cốt là KTCM được gọi theo nhiều cách khác nhau (D. Nelson, 2015) và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều thống nhất rằng quy trình KTCM được thực hiện hoàn toàn bởi nhân viên của nhà trường, được thành lập thành một nhóm đánh giá chuyên biệt.
Những nhóm này thường bao gồm các giáo 5 viên và các thành viên thuộc Ban quản lý của nhà trường. Các nghiên cứu về hoạt động KTCM của một số nước cũng chỉ ra rằng: Các thành viên chuyên trách trong nhóm đánh giá CM của nhà trường chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kiểm tra và quá trình KTCM ở trường học. Một số công trình và báo cáo nghiên cứu liên quan đến KTCM ở một số nước như sau: Trong nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” tại Hà Lan của tác giả Ah- Teck, J. [2014- Tạp chí Journal of Educational Administration, 52(6), 833 -849] tập trung nghiên cứu việc Hiệu trưởng ở các trường thuộc Mauritius (Hà Lan) sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lượng nội bộ trong việc đưa ra quyết định cải thiện môi trường giáo dục.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả cũng cho thấy việc quản lý chất lượng KTCM rất quan trọng và nó còn quan trọng hơn khi các Hiệu trưởng sử dụng kết quả đó trong các quyết định của mình trong quá trình quản lý nhà trường. Hai tác giả người Anh là Hall, C. (2007), nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm tra chuyên môn đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân”. Tại nghiên cứu này, các tác giả phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTCM.
Đồng thời xem xét mối liên hệ giữa Thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTCM thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trường học hưởng ứng và thực hiện tốt công tác KTCM, không những thế KTCM được giáo viên sử dụng như một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân. Cũng tại Mỹ các tác giả McNaughton, S. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình kiểm tra nội bộ trường học” (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hóa, đa sắc tộc.
Nghiên cứu này trình bày tính hiệu quả của mô hình KTCM phục vụ việc dạy và học của các trường học thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó nâng cao vai trò của Hiệu trưởng cũng như nâng cao hoạt động quản lý đối với mô hình KTCM đã giúp cho việc quản lý Nhà trường một cách có hiệu quả. 6 Canul và New England Associationof schools and colleges (2019) nghiên cứu tầm quan trọng của tự đánh giá đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Nghiên cứu này nghiên cứu 2.171 các báo cáo KT của các trường phổ thông và phỏng vấn sâu 25 trường trong năm học 2007-2008, khẳng định KT giúp các trường nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục của nhà trường.
Nghiên cứu của Canul và Ribeiro, de Gusmão (2010) chỉ ra hạn chế của hoạt động tự KT rằng nhà trường còn đánh giá cao việc đạt được các chuẩn so với các báo cáo của đánh giá ngoài hay nhà trường chưa nhìn rõ các hạn chế của mình như đánh giá của đoàn đánh giá ngoài [39]. Về tác phẩm dịch có thể chú ý đến "Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Hiệu trưởng" của XuKhômxki, dịch và xuất bản năm 1981. Có nêu vấn đề "Phân công giữa Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng chuyên môn trong công tác kiểm tra" Tác giả RiGand trong tác phẩm "Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác lãnh đạo" do nhà xuất bản Hà Nội - 1984 có lưu ý đến việc phân cấp khi tổ chức công tác kiểm tra. Từ một số nghiên cứu trên đây có thể thấy, hoạt động KTCM được các nhà quản lý giáo dục ở nước ngoài rất coi trọng.
Công tác KTCM được đánh giá cao trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh và việc KTCM được giáo viên cho rằng quan trọng hơn và có tác động nhiều hơn đến hoạt động của trường so với những cuộc kiểm tra từ bên ngoài (thanh tra). Đồng thời các nghiên cứu trên đây cũng cho thấy vai trò của Hiệu trưởng trong việc quyết định, tổ chức KTCM tại các nước này. Nghiên cứu trong nước Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, trong mười năng lực mang tính học thuật của người HT thì có hai năng lực giám sát và KT trong quản lý giáo dục. Hai năng lực này hỗ trợ, bổ sung cho nhau và giúp cho người HT phát triển được cả cái tài, cái tầm trong điều hành nhà trường.
Người có tài là người việc sai mà sửa được, việc xấu mà ngăn được, việc hỏng mà vớt được. Người có tầm là người chưa có việc mà biết việc sắp tới, mới có việc đã biết diễn biến của việc ra sao, triển khai việc mà dự đoán được kết quả cuối cùng. Năng lực KT giúp cho người HT phát triển được cái tài, còn năng lực giám sát giúp cho người HT phát triển được cái tầm trong điều hành nhà trường [2, tr 80]. 7 Cuốn sách “Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý do Nguyễn Văn Bình làm tổng chủ biên đã được NXB Thống kê ấn hành năm 1999 đã nêu rõ định nghĩa, công cụ, các nguyên tắc của quản lý và quản lý giáo dục và chỉ ra phương thức triển khai các chức năng cơ bản của quản lý và quản lý giáo dục.
Đây là một trong những công trình khoa học mang tính cơ sở lý luận chung để vận dụng vào quản lý các hoạt động xã hội [4]. Cuốn sách “Cơ sở khoa học của quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo do NXB Chính trị quộc gia ấn hành năm 1997 được những nhà quản lý coi như một cẩm nang của mình để triển khai các chức năng cơ bản của quản lý giáo dục các hoạt động xã hội nói chung. Các tri thức về quản lý trong công trình này có thể vận dụng vào quản lý hoạt động KTCM nói chung và trường THCS nói riêng [12]. Tác giả Hà Sỹ Hồ đã khẳng định: "Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu" [17].
Vai trò công tác KT trong các cơ sở giáo dục đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu về QLGD. Theo tác giả Trần Kiểm, mục đích cuối cùng của KT là điều chỉnh quyết định quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý đã đề ra. Tuy nhiên, đây chỉ là mục đích tự thân của quản lý. Ngoài mục đích này, KT còn phải gắn với mục đích phát triển của tổ chức và cá nhân [21, tr.
KT không chỉ là điều chỉnh, mà KT còn là phát triển. KTCM nhà trường là chức năng quản lý cơ bản, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời, giúp HT hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường. KTCM nhà trường là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Lãnh đạo mà không KT thì coi như không lãnh đạo [27, tr 86].
Theo Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn "Những khái niệm cơ bản về lý luận, quản lý giáo dục" cho rằng: “Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: chuẩn bị kế hoạch hoá; kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra, trong đó, giai đoạn 5 - kiểm tra, là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho 8 việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo.