Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VE QUAN LÍ HOAT ĐỘNG GIÁO DUC NGOÀI GIO LÊN LỚP THEO HUONG TIEP CAN PHÁT TRIEN NANG LUC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HOC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thé giói Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Educational activities outside class) trong những năm gần đây được nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục nhân mạnh ý nghĩa và tam quan trọng trong phát triển giáo dục toàn diện nhân cách cho HS. Theo WHO (Tô chức Y tế Thế giới) kỹ năng sống (Life skills) là khả năng thé hiện va thực hiện năng lực tâm lý xã hội hay nói rõ hơn: “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó cũng là khả năng của một cá nhân đề duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực trong tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng về thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội nay. Do là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
Theo quan niệm của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO): Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Nhiều học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới có quan điểm tương đồng với quan niệm của WHO cho rằng kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, được thê hiện bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, các thách thức đặt ra trong cuộc sông và thích nghi với cuộc sông. Tại nhiều nước phương Tây, thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng sống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người. Tại Hàn Quốc, HS TH được học cách đối phó thích ứng với các tai nạn như cháy, động đất, thiên tai.
tại Trung tâm điều hành tình trạng khẩn cấp Seoul. Tiếp cận năng lực trong giáo dục (CBE — Competency based education) xuất hiện tại Hoa Ky trong những năm 1970 gắn với một trào lưu giáo dục chủ trương xác định mục tiêu giáo dục bằng cách mô tả cụ thê để có thể đo lường được những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS cần phải đạt được sau khi kết thúc khóa học. Tiếp cận năng lực trong giáo dục tập trung vào năng lực hành động, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được. Hay là một chiến lược giảng dạy, trong đó quá trình học tập dựa trên năng lực thực hiện (performance based learning).
Người học chứng minh mức độ nắm kiến thức của mình thông qua khả năng thực hiện những hành động cụ thể. Theo Văn phòng Giáo dục Hoa Ky (U.S Office of Education), “Giáo dục người học dựa trên năng lực thực hiện dẫn họ đến việc làm chủ được những kỹ năng cơ bản và kỹ năng sống cần thiếu của cá nhân và hòa nhập tốt vào hoạt động lao động ngoài xã hội” (xem Savage, 1993). Trong nước Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách giáo dục, nhiều chính sách, chi thị, nghị quyết được ban hành, cụ thé hóa bằng các văn bản hướng dẫn, quy định, quy chế của Bộ GD&DT, nhiều nghiên cứu đã tập trung xoay quanh việc làm rõ khái nệm HDGD NGLL và cách thức tổ chức nhăm thực hiện tốt hoạt động này. Hiện nay trong nhiều lĩnh vực giáo dục, các nhà nghiên cứu đang quan tâm tới vấn đề phát triển giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực.
Với xu 9 hướng này, các nhà nghiên cứ đã hướng chương trình giáo dục tập trung vào năng lực của người học phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục trên thế giới. Việc giáo dục theo hướng PTNL là xuất phát từ người học chứ không phải từ người dạy. Mọi nhu cầu, hứng thú, lợi ích, khả năng của người học đều được tính đến trong quá trình giáo dục nhất là giáo dục NGLL. Nhiều nhà khoa học như Nguyễn Hữu Hợp và Nguyễn Dục Quang, trong nghiên cứu “Công tác giáo dục NGLL ở trường TH”; Dang Vũ Hoạt trong “HĐGD NGLL ở trường TH” đã góp phan chỉ rõ mục tiêu, cấu trúc thiết kế, phương pháp và hình thức tổ chức cũng như cách đánh giá kết quả HDGD NGLL.
Bộ GD&DT cũng ấn hành nhiều tài liệu về HĐGD NGLL như “Tài liệu bồi dưỡng cho GV TH chu kỳ III từ 2003 — 2007; NXB Giáo dục, 2005”; “Thực hành tô chức các HĐGD NGLL; Dự án Phát triển GV TH, 2005”. Tác giả Hà Nhật Thăng, Đỗ Trọng Văn, Lê Thanh Sử. cũng đã có nhiều nghiên cứu về HĐGD NGLL ở các trường phố thông. Nhiều luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục đã nghiên cứu về dé tài quản lý HDGD NGLL.
Tại Hội thảo khoa học về “Quản lý dạy học chuyên từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, vấn đề và giải pháp” diễn ra vào tháng 2 năm 2016 tại Hà Nội, các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý giáo dục cho rằng, cần phải chú trọng PTNL của người học, nhất là tư duy sáng tạo, vận dụng giải quyết những van dé trong cuộc sống. Việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực nói chung hay giáo dục các hoạt động NGLL cho HS được xem là một chìa khóa dé đôi mới giáo dục. Và dé thực hiện, đổi mới HDGD NGLL theo hướng tiếp cận PTNL cần phải xác định chính xác ngưỡng nhận thức năng lực phù hợp của HS. Việc nghiên cứu thực trạng quản lý HDGD NGLL theo hướng tiếp cận PTNL và đề xuất các biện pháp quản lý HDGD NGLL theo hướng tiếp cận PTNL dang là van đề cấp thiết của nhà trường, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quan ly, quan lý giáo duc * Quan ly Quan lý là hoạt động mang tinh xã hội, khoa hoc, nghệ thuật của chu thé quản lý tác động lên đối tượng quản lý, khách thé quản lý một cách hợp quy luật, qua thực hiện các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, điều khiến, kiểm tra). Sự phát triển của xã hội loài người không thé tách rời hoạt động quản lý. Có tổ chức, có tập thê thì tất yếu phải có quản lý.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội con người muốn tồn tại và phát triển đều cần có sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức với nhiều mối quan hệ đan xen và đều phải thừa nhận và chấp nhận một sự quản lý nào đó. Mác nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nao tiễn hành trên quy mô tương đối lớn, thi ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo dé điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lây mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [13-tr480]. Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tô chức).
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thé đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất”[22-tr33]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí — Nguyễn Thi Mỹ Lộc, “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tô chức băng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) của kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [15-tr9]. Theo các tác giả Bùi Minh Hiền — Nguyễn Vũ Bích Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thé quản lý đến đối tượng quan lý nhăm đạt mục tiêu đề ra” [23-tr46]. Các quan điểm tuy không hoàn toan giống nhau nhưng có thể khái quát lại “Quản lý chính là tô hợp sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên 11 khách thé quản lý và đối tượng quản lý trên cơ sở phát huy tốt nhất các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu một cách có hiệu quả nhất”.
Quản lý bao gồm các chức năng cơ bản đó là: Chức năng kế hoạch hóa: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý, bao gồm soạn thảo, thông qua được những chủ trương quản lý quan trọng. Chức năng tổ chức thực hiện: Đây chính là giai đoạn hiện thực các quyết định, chủ trương bang cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quan lý, tao dựng mạng lưới quan hệ tô chức, lựa chọn sắp xếp cán bộ. Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn động viên điều chỉnh và phối hợp các thành viên trong tổ chức, tích cực hăng hái chủ động theo sự phân công đã định. Chức năng kiểm tra, đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống.
Nó thực hiện xem xét tình hình thực hiện công viêc so với yêu cầu, từ đó đánh giá đúng đăn kết quả đạt được, khăng định ưu điểm và phát hiện những hạn chế, sai sót nhằm kip thời thực hiện điều chỉnh cần thiết. * Quản ly giáo duc Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc xã hội. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người giáo dục cần có quản lý với nhiều cấp độ khác nhau để đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục.
Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thé quản ly ở các cấp khác nhau đến tat cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hòa của họ.