chương 1 và chương 3 của đề tài. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia Đó là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia sẽ giúp cho người nghiên cứu có được những đánh giá cụ thể về công trình nghiên cứu của mình. Thực hiện phương pháp lấy ý kiến chuyên gia bằng cách xin ý kiến giảng viên hướng dẫn, các giảng viên giảng dạy môn Văn ở trường Đại học Hùng Vương và một số giáo viên dạy giỏi môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học.
Phương pháp này được thực hiện trong quá trình nghiên cứu và ở giai đoạn cuối cùng khi đã hoàn thiện. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do người nghiên cứu tác động đến. Tổ chức thực nghiệm sư phạm dạy học làm văn theo hướng tiếp cận năng lực học sinh nhằm kiểm nghiệm tính khả thi để hoàn thiện đề tài của mình. Phương pháp này được thực hiện ở chương 3 của đề tài.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC HỌC SINH 1. Giới thuyết chung về năng lực trong dạy học Tiểu học 1. Năng lực và bản chất của năng lực Phần lớn định nghĩa về năng lực của các tài liệu nước ngoài quy năng lực vào phạm trù khả năng: - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”; - Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem năng lực “là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực”; - Denyse Tremblay cho rằng năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống”; - Còn theo F.Weinert, năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp”. Như vậy, việc giải thích năng lực bằng khái niệm khả năng không thật chuẩn xác.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “khả năng” là cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định hay có thể hiểu là cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì. Dù hiểu theo nghĩa nào thì cũng không nên quy năng lực vào phạm trù khả năng vì người có năng lực trong một lĩnh vực nào đó chắc chắn sẽ thực hiện thành công loại hoạt động tương ứng; trong khi khả năng là cái tồn tại ở dạng tiềm năng có thể biến thành hiện thực nhưng cũng có thể không biến thành hiện thực. Tuy nhiên, các thuật ngữ khả năng của các tác giả nước ngoài luôn đi kèm các cụm từ “đáp ứng một cách hiệu quả”, “hành động hiệu quả”, “hành động, thành công và tiến bộ”. 7 Nhiều tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam quy năng lực vào những phạm trù khác nhau: - Tài liệu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp năng lực vào phạm trù hoạt động khi giải thích: “năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.
để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”. Thực ra, năng lực của con người thể hiện, bộc lộ qua việc thực hiện thành công hoạt động, nhưng bản thân nó không phải là hoạt động. Nó là kết quả “huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác. Một số tài liệu khác gọi năng lực là đặc điểm, phẩm chất hoặc thuộc tính cá nhân, ví dụ: - Cách hiểu của Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó”; - Cách hiểu của Từ điển Tiếng Việt: “năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”; - Cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [21].
- Cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [15]. - Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998) có giải thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [18]. 8 - Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi [2]. Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực, những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như: – Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: + Năng lực tự học; + Năng lực giải quyết vấn đề; + Năng lực sáng tạo; + Năng lực quản lí bản thân. – Năng lực xã hội, bao gồm: + Năng lực giao tiếp; + Năng lực hợp tác.
– Năng lực công cụ, bao gồm: + Năng lực tính toán; + Năng lực sử dụng ngôn ngữ; + Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin. Như vậy, theo chúng tôi, có thể hiểu một cách ngắn gọn: năng lực là sự vận dụng tất cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống thông qua các hoạt động cụ thể. Đặc trưng, cấu trúc của năng lực * Đặc trưng của năng lực Để phân biệt năng lực với những khái niệm khác cùng phạm trù, các tài liệu trong nước và nước ngoài đều thống nhất quan niệm năng lực cá nhân được bộc lộ ở hoạt động (hành động, công việc) nhằm đáp ứng những yêu cầu cụ thể trong bối cảnh (điều kiện) cụ thể. Đây là đặc trưng phân biệt năng lực với tiềm năng - khả năng ẩn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực.
Một số tài liệu của Việt Nam còn cho rằng năng lực gắn với các “dạng hoạt động” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, Đặng Thành Hưng), “loại hoạt động” (Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học), “loại công việc” (Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ GD&ĐT). Theo chúng tôi, việc quy chiếu năng lực với loại hoạt động giúp chúng ta phân biệt năng lực với kĩ năng – một thành tố của năng lực. Mỗi năng lực gắn với một loại hoạt động, chẳng hạn: năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, năng lực hợp tác. Các năng lực này được thể hiện ở những kĩ năng gắn với những hoạt động cụ thể, như: kĩ năng nói, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng làm việc nhóm.
Đặc trưng thứ hai của năng lực được hầu hết các tài liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài thống nhất là tính “hiệu quả”, “thành công” hoặc “chất lượng cao” của hoạt động. Đồng thời, có thể nêu thêm một đặc trưng nữa của năng lực là “sự phối hợp (tổng hợp, huy động) nhiều nguồn lực”. Những nguồn lực này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực bên ngoài, như bạn cùng lớp, thầy giáo, cô giáo… Theo Howard Gardner, để giải quyết một vấn đề có thực trong cuộc sống, con người phải kết hợp các trí năng liên quan với nhau (8 lĩnh vực trí năng là ngôn ngữ, logic - toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên, sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân. Thực ra, những điều nói về sự phối hợp nhiều nguồn lực liên quan đến cấu trúc của năng lực (thường được cho là 10 bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ.) và một số năng lực cụ thể (như năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp.) có thể xem đó là một đặc điểm của năng lực nhưng khó có thể xem là một đặc trưng phân biệt năng lực với những khái niệm khác như tiềm năng, khả năng hay năng khiếu - những thuộc tính vốn cũng có tính tổng hợp.
Bởi vậy, có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy, hai đặc trưng cơ bản của năng lực là: + Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động + Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn.