CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÂM LY HỌC VE NĂNG LỰC KHÁI QUÁT HÓA 1. Lược sử nghiên cứu vấn đề Van đề khái quát hóa từ lâu đã được nhiều trường phái tâm lý hoc và nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu như: - Trường phái tâm ly học liên tưởng (Ð. Um, Giém Prinxtli, A.) xem sự liên tưởng là đơn vị cấu thành cơ bản của tâm lý - tâm lý được tạo lên từ các phần tử, đó là những cảm giác, những cảm nhận giản đơn. Tư duy là những liên tưởng - những mối liên hệ giữa các cứ liệu của cảm giác, quá trình thay đổi không chủ đích các biểu tượng - hình ảnh được xem như hình mẫu của mọi quả trình trí tuệ: tư duy luôn là tư duy hình ảnh, quá trình tư duy luôn là sự thay thế, luân chuyên không chủ đích các hình ảnh, sự phát triển tư duy là sự tích lũy các liên tưởng và khái niệm là sự liên tưởng của các biểu tượng - hình ảnh, phán đoán là sự liên tưởng của các khái niệm, còn suy lý là sự liên tưởng của các phán đoán.
Liên tưởng theo sự giống nhau đóng vai trò đặc biệt trong tư duy. Tóm lại, sự kết hợp, lặp lại, phân loại theo các cách thức khác nhau của cùng các cứ liệu cảm tính chỉ có mối liên hệ bề ngoài với nhau đã tạo thành tư duy [29]. Như vậy, thuyết liên tưởng đã đề cập đến quả trình khái quát hóa và kết quả của quả trình này. Tuy nhiên quả trình khái quát hóa là một quả trình mang tính ngẫu nhiên do sự tác động một cách ngẫu nhiên của các hiện tượng bên ngoài lên con người, vai trò của con người chỉ đơn giản là sự chap nói, liên kết những cứ liệu cảm tính giống nhau để tạo thành các khái quát.
Khái quát hóa theo quan niệm của thuyết liên tưởng sẽ chỉ cho biết những đặc diém giông nhau bê ngoài của sự vật, hiện tượng. - Nghiên cứu của G. Piagiê: van đề khái quát hóa trong nghiên cứu của G. Piagiê thé hiện quả quan niệm của ông về sơ đồ hành động (ở trình độ phát triển khi trẻ có khả năng thực hiện hành động trong bình diện trí tuệ và hành động có tính thuận nghịch thì lúc đó sẽ hình thành sơ đồ thao tác).
Piagiê, sơ đồ hành động được hình thành trong qúa trình trẻ thực hiện hành động với sự vật và là cái chung nhất được lưu giữ trong các hành động ừong quả trình lặp lại nhiều lần của chúng trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Sơ đồ hành động cho phép trẻ hành động một cách thích ứng với những sự vật khác nhau thuộc cùng một lớp hoặc với các trạng thái khác nhau của cùng một sự vật. Toàn bộ kinh nghiêm có được ở trẻ được định hình 13 trong các sơ đồ hành động. Theo nghĩa rộng hơn, sơ đồ hành động là một cau thành ở một trình độ phát triển trí tuệ, nó là một hệ thống trí tuệ, một thé trọn vẹn.
Các cấu thành này được hình thành trong quả trình phát triển cá thể, phụ thuộc vào nội dung của kinh nghiệm và khác nhau về chất ở các giai đoạn phát triển khác nhau [24]. Nhu vậy, mặc đủ không trực tiếp nhưng G. Piagiê cũng đã đề cập đến quả trình khái quát hóa và kết quả của nó. Tuy quá trình khái quát hóa cũng là quả trình mang tính ngẫu nhiên, nhưng qua đây cho thấy trong quan niệm của G.
Piagiê đây là quả tình khái quát hóa hành động mà kết quả của nó là khả năng thực hiện hành động với đối tượng khái quát. - Nghiên cứu của D. Bruno: van đề khái quát hóa được D. Bruno xem xét khi nghiên cứu hoạt động cụ thé lĩnh hội và vận dụng kiến thức được lĩnh hội vào những tình huống mới, và thể hiện trong khái nệm về hệ thống mã hóa thông tin.
Bruno cho rằng dé vận dụng được kiến thức thì những thông tin nhận được từ bên ngoài phải được tổ chức lại đưới dạng những sơ đồ hình thức (thông tin được mã hoá) - đó là năng lực đưa thông tin nhận được từ bên ngoài vào hệ thống mã hóa khái quát. Hệ thống mã hóa này, sau đó, được sử dụng dé thực hiện sự phân loại sự vật vào các lớp, thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc các lớp khác nhau, và thao tác bằng các lớp đó. Nếu hệ thống mã hóa này phản ánh được bản chất của sự vật nó sẽ là công cụ của qúa trình nhận thức tiếp theo. Hệ thống mã hóa này không ngừng được thay đổi và tô chức lại.
Brunơ đã nêu lên những điều kiện hình thành những hệ thống mã hóa khái quát, đó là : tâm thế; nhu cầu; mức độ nắm kiến thức ban đầu trên cơ sở đó hình thành lên hệ thống mã hóa khái quát hơn; sự đa dạng của tập luyện [1§]. Brunơ đã nghiên cứu khái quát hóa như một vấn đề riêng, tuy nhiên ông chưa đề cập đến sự khác nhau trong qúa trình khái quát hóa đã dẫn đến các kết quả khác nhau trên. - Nghiên cứu của R. Siegler : trọng tâm sự chú ý của R.
Siegler là các qua trình trí nhớ và tư duy. Theo đó, tư duy là một quả tành xử lý thông tin, trong sự phát triển của mình trẻ từng bước phát triển năng lực xử lý thông tin, điều đó cho phép trẻ lĩnh hội kiến thức và kỹ năng ngày càng phức tap hơn. Siegler nhắn mạnh vai trò của các cơ chế của sự thay đổi trong qua trình phát triển. Có bốn cơ chế chủ yếu cùng nhau tạo nên những thay đổi trong các kỹ năng nhận thức của trẻ: mã hóa - cơ chế đưa thông tin vào trí nhớ; tự động hóa - khả năng xử lý thông tin tốn ít sức lực; chiến lược tạo lập - sự khám phá quy trình mới xử lý thông tin; khái quát hóa - sự khái quát hay vận dụng thông tin vào những vấn đề, tình huống khác [30].
14 Quan điểm sư phạm tích hợp về qué trình học tập của X. Roegiers : van đề khái quát hóa được thể hiện trong sự phân loại nội dung giảng dạy ("vấn đề giảng dạy" hay "đối tượng học tập”) : những cá biệt (những yếu tố hay sự kiện không có một tính chất khái quát nào, như thời điểm của một sự kiện, công thức hóa học của một chất, tên của một người.); những lớp (những tập yếu tố có ít nhất một tính chất chung, như những khái niệm về màu sắc, hình vuông, phép cộng .); những quan hệ (những mệnh dé chung có thé nhận những giá trị đặc biệt, như, định luật, công thức, quy tắc .); những toán tử và các phép tính (các thuật toán và các phép tính); những cấu trúc và những hệ (những tập hợp quan hệ bao gồm trong đó những yếu tố và quan hệ giữa chúng, như các thuyết, phép chứng minh, qui trình, angorit. Quan điểm tích hợp sư phạm cũng đồng thời đưa ra ý kiến về các kỹ năng cơ bản, trong đó có kỹ năng nhận thức, liên quan đến khái quát hóa, gồm những kỹ năng khái niệm (tìm những vận dụng của một nguyên tắc, minh họa bằng những ví dụ và phản ví dụ, phát biểu cùng một vấn đề bằng những từ khác, tóm tắt thông tin một cách ngắn gọn và chính xác.), những kỹ năng phương pháp luận, những kỹ năng sáng tạo [13]. Nghiên cứu của L.
Vưgotxki: vấn đề khái quát hóa được xem xét trong nghiên cứu của L. Vưgotxki về tư duy ngôn ngữ và thể hiện trong quan điểm của ông về nghĩa của từ. Băng phương pháp phân tích ra thành đơn vị, L. Vưgotxki đã đi đến kết luận rằng nghĩa của từ là đơn vị của tư duy ngôn ngữ, là cái mau chốt nhất của tư duy ngôn ngữ.
Vưgotxki, nghĩa của từ là sự khái quát vì nó chỉ một lớp đối tượng, nghĩa của từ là kết quả của thao tác tư duy có dùng từ ngữ. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm qúa trình hình thành " khái niệm nhân tạo "ở trẻ em đã cho phép L. Vưgotxki đưa ra sự đánh giá về thao tác tư duy - cách thức trẻ liên kết các sự vật vào nhóm, cũng như tính chất của các khái quát được hình thành trong qúa tình này và được trẻ đưa vào nghĩa của từ. Vugotxki đã tách ra ba mức độ khái quát hóa cơ bản mang tính phát sinh về chất: cụ thể tổng hợp; tô hợp; khái niệm.
Khái quát hóa ở mức độ khái niệm được thực hiện bằng hai con đường - khái quát hóa bang con đường tự phát và khái quát hóa bằng phương pháp nhà trường [2]. Nghiên cứu của XX. Rubinstein : vấn đề khái quát hóa trong nghiên cứu quả trình tư duy như hoạt động của chủ thé tác động qua lại với thé giới khách quan nhằm giải quyết những van đề cụ thể, ương đó khái quát hóa được đề cập dưới góc độ như một trong các thao tác tư duy thành phần tạo lên quả trình tư duy, là cơ sở của các trình độ tư duy khác nhau. Theo ông, qúa 15 trình tư duy - trước hết là quá trình phân tích và tổng hợp cái do phân tích mà có; sau đó, trừu tượng hóa và khái quát hóa, là cái thứ sinh của phân tích và tổng hợp.
Phân tích, tong hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa có thể được thực hiện dưới dạng các thao tác hoặc dưới dạng các hành động. Rubinstein đã mô tả cụ thể các thao tác tư duy là cơ sở của thao tác khái quát hóa, phân biệt chúng trong nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Ông đặc biệt quan tâm nghiên cứu dang phân tích thông quả tổng hợp, coi đó là dang phân tích cơ bản nhất đối với tư duy khoa học. Từ kết quả các công trình nghiên cứu của mình và các cộng sự, X.
Rubinstein đã chỉ ra hai con đường khái quát hóa thê hiện hai trình độ khái quát hóa : khái quát hóa kinh nghiệm được thực hiện bằng cách so sánh và khái quát hóa khoa học được thực hiện bằng phân tích thông quả tổng hợp và trừu tượng hóa [20]. - Nghiên cứu của N. Menchinxkaia : nghiên cứu khái quát hóa như là cơ sở của trình quả trình lĩnh hội và vận dụng kiến thức của học sinh, N. Menchinxkaia cho rằng quả trình khái quát hóa, dựa trên sự phân tích và liên kết những dau hiệu giống nhau, được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với trừu tượng hóa (bao gồm hai khía cạnh - tách ra, giữ lại những dấu hiệu bản chất, và loại ra những dấu hiệu không bản chất).