phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục chính trị tƣ tƣởng cho SV ĐH. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục chính trị tƣ tƣởng cho SV Trƣờng ĐH Quốc tế Miền Đông, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục chính trị tƣ tƣởng cho SV Trƣờng ĐH Quốc tế Miền Đông, tỉnh Bình Dƣơng. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƢ TƢỞNG CHO SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý GDCTTT là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động GDCTTT đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất [2]. Về bản chất, quản lý GDCTTT là quá trình tác động có định hƣớng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GDCTTT nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDCTTT. Nghiên cứu về GDCTTT nói chung và quản lý GDCTTT cho SV là một nội dung giáo dục quan trọng nhằm giúp nhà trƣờng thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách ngƣời học. Chính vì vậy mà GDCTTT cho SV là một vấn đề đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ trƣớc đến nay.
Ở Việt Nam những năm qua, công tác chỉ đạo GDCTTT cho SV đã đƣợc đề cập nhiều trong các nghị quyết của Đảng; văn bản, quyết định của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả GDCTTT trong hệ thống các trƣờng ĐH, Cao đẳng. Đã có rất nhiều công trình (kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí và nhất là trên sách) bàn về đề tài này ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, tập trung ở một số hƣớng nghiên cứu cơ bản sau đây: Trƣớc hết, tập trung nghiên cứu nhiều nhất đó là vấn đề đổi mới nội dung, chƣơng trình, phƣơng pháp, hình thức GDCTTT cho SV. Theo hƣớng này có các công trình tiêu biểu nhƣ: tác giả Lƣơng Gia Ban (Chủ biên), (2002), “Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung chương trình các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh”; Nghiên cứu của Lê Xuân Nam, Lê Thanh Sinh, Nguyễn Thanh, Lƣơng Minh Cừ, Hoàng Trung (Đồng chủ biên), (2002), “Một số ý kiến trao đổi về phương pháp giảng dạy các môn khoa học MLN ở ĐH và cao đẳng”; bài viết trên Tạp chí Giáo dục số 48 của nhà nghiên cứu Đinh Xuân Khoa (2003), “Đổi mới phương pháp dạy học ĐH - những khó khăn và giải pháp”; bài viết trên Tạp chí Giáo dục số 20 của Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng (2005), “Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường ĐH”; tác giả 8 Dƣơng Phú Hiệp (2007), “Tiếp tục đổi mới nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta”; Đề tài cấp trƣờng do tác giả Trần Thị Tuyết chủ nhiệm (2006): “Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh với việc giáo dục chính trị và định hướng tư tưởng SV trong trường ĐH” (ĐH Quốc gia Hà Nội, mã số: N. Điển hình có nghiên cứu “Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh - SV” của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt (2005), tác giả với quan điểm biện chứng kết hợp giáo dục đạo đức với chính trị tƣ tƣởng theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Tác giả nêu rõ “Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức, coi đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng, là phẩm chất đầu tiên của con người. Toàn bộ sự nghiệp cách mạng của HCM gắn liền với quá trình tư tưởng đạo đức cách mạng mà Người là tấm gương tiêu biểu, là mẫu mực của đạo đức ấy”. Tác giả coi nhiệm vụ GDCTTT là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong mối quan hệ biện chứng với công tác đào tạo chuyên môn cho SV, đáp ứng quá trình xây dựng con ngƣời “vừa hồng, vừa chuyên” trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; đặc biệt là đối với SV các trƣờng sƣ phạm, GDCTTT và đạo đức còn mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bởi vì năm 1964, tại buổi gặp gỡ và nói chuyện với thầy trò trƣờng ĐHSP Hà Nội, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Dạy và học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng.
Đó là cái gốc rất quan trọng”. Bác đƣa ra hình ảnh so sánh rất cụ thể về tác hại của ngƣời cán bộ thiếu một trong hai tiêu chuẩn về đức và tài mà cho đến nay mỗi ngƣời chúng ta ai ai cũng ghi nhớ: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Tác giả nêu những bất cập trong giáo dục hiện nay trong nền kinh tế thị trƣờng, và những biện pháp tăng cƣờng GDCTTT và đạo đức cho học sinh - SV trong môi trƣờng trƣờng học và xã hội. Tiếp đến, là những nghiên cứu về GDCTTT nói chung và GDCTTT cho cán bộ, đảng viên.
Theo hƣớng này có các công trình tiêu biểu nhƣ: “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở” của tác giả Vũ Ngọc Am (2003); sách trích dẫn những bài viết của Hồ Chí Minh (2007) “Về công tác giáo dục LLCT”; bài viết trên Tạp chí Tƣ tƣởng - Văn hoá (số 6) của tác giả Đào Duy Quát (2006) về “Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác 9 GDLLCT trong tình hình mới”; bài viết trên Tạp chí Tuyên giáo (số 11) của Mạch Quang Thắng (2008), “Phương pháp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ LLCT theo quan điểm Hồ Chí Minh”; Đề tài cấp Bộ Mã số B08 – 22 do Ngô Ngọc Thắng chủ nhiệm (2008), “Vận dụng TTHCM về công tác GDLLCT trong hệ thống các trường chính trị nước ta giai đoạn hiện nay”; Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Đình Trãi (2001) về “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ, giảng viên lý luận Mác – Lênin ở các trường chính trị tỉnh”; Luận văn Thạc sĩ Chính trị học của Lăng Văn Thăng (2004) về “Vai trò GDLLCT trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ cơ sở ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”. Đặc biệt, GDCTTT cho SV có bài viết “Những gợi ý từ tuyến đầu giảng dạy lý luận mácxít” (Tạp chí Cầu thị số 24/2005 đƣợc tác giả Nguyên Đức Sâm biên dịch trên tạp chí Những vấn đề chính trị - xã hội số 16/2006). Bài viết này đã phản ánh những khó khăn, hạn chế trong GDCTTT ở các trƣờng ĐH của Trung Quốc (ĐH Bắc Kinh, ĐH Thanh Hoa, ĐH Nam Khai, ĐH Nhân dân Trung Quốc, ĐH Nông nghiệp Trung Quốc, ĐH Kinh tế mậu dịch đối ngoại Trung Quốc, ĐH Kinh tế tài chính pháp luật Trung Quốc) và nêu lên một số giải pháp nhằm “thúc đẩy môn học lý luận mácxít ra khỏi tình trạng luẩn quẩn hiện nay”. Nghiên cứu về vai trò, cơ sở khoa học của công tác GDCTTT cho SV các trƣờng cao đẳng và ĐH có các công trình tiêu biểu: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới giảng dạy, học tập môn Triết học Mác - Lênin trong các trường ĐH toàn quốc; Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh’’ (trong các trƣờng ĐH, cao đẳng); Đề án “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường ĐH và cao đẳng” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007).
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học các môn Mác – Lênin trong các trƣờng ĐH có các công trình tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Duy Bắc (Chủ biên) (2004), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường ĐH”; Tham luận của tác giả Bành Tiến Long (2008), “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác 10 tư tưởng cho học sinh, SV trong giai đoạn hiện nay, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Ban Tuyên giáo Trung ƣơng; đề tài cấp cơ sở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, mã số GNV.07-47 do Dƣơng Trung Trung chủ nhiệm (2007), “Ý thức chính trị của SV các trường ĐH và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội”; bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số 11 của Trần Thị Anh Đào (2006), “Thực trạng về nhận thức chính trị - tư tưởng của SV Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay”; Nghiên cứu của tác giả Trần Khải Định (2008), “Công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho SV ở trường ĐH Tây Nguyên”; Luận văn tiến sĩ Triết học của Hoàng Anh (2006), “Giáo dục lý luận Mác – Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở SV Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay”; Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Luyến (2005), “Vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho SV các trường ĐH, Cao đẳng ở Hà Nội hiện nay”; Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị của tác giả Trần Thị Huệ (2008), “Nâng cao năng lực thế giới quan khoa học cho SV trường ĐH Hồng Đức - Thanh Hóa hiện nay”. Một công trình nghiên cứu khá tiêu biểu khác là đề tài Khoa học Công nghệ cấp nhà nƣớc (Mã số: KHCN-04-07) do Hội đồng lý luận trung ƣơng và Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trƣờng đề xuất với Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành nghiên cứu về công tác GDCTTT và lối sống của học sinh - SV và thanh niên Việt Nam, đề tài “Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, (Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng, Lƣu Thu Thủy chủ trì). Đề tài cấp nhà nƣớc này tiến hành trong hơn hai năm từ năm 1999 đến năm 2001. Nhóm tác giả đã khảo sát 2.271 học sinh SV trên toàn quốc (tại ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng, và TP.
Hồ Chí Minh), trong đó có 1.585 SV tại các trƣờng ĐH lớn của cả nƣớc tại ba thành phố này, và 176 cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên.