phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ viên chức hành chính ở trường Cao đẳng trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ viên chức hành chính ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đội ngũ viên chức hành chính ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam trong bối cảnh đổi mới giáo dục. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC HÀNH CHÍNH Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đội ngũ bao gồm những người lao động, tức là nguồn nhân lực được sử dụng vào một công việc nào đó do bộ phận hoặc đơn vị quản lý. Đội ngũ này nằm trong nguồn nhân lực.Những luận điểm trên cho thấy, đội ngũ cán bộ là tập hợp những cán bộ được tổ chức thành một lực lượng có cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu đề ra. Một tập hợp gắn bó hữu cơ cán bộ của một cơ quan, tổ chức nhất định thì được gọi là đội ngũ cán bộ của cơ quan hoặc tổ chức đó. Khi nói đến đội ngũ cán bộ ta phải hiểu và xét trên quan điểm hệ thống đó không phải là một tập hợp rời rạc mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế nhất định nào đó.
Vì vậy, mỗi tác động vào một thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa trên toàn thể. Phát triển đội ngũ chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ đó được thay đổi, hoàn thiện theo một chiều hướng tích cực. Phát triển đội ngũ cán bộ tức là nhằm vào hoàn thiện kết quả lao động tổng thể của người cán bộ trong cương vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho học đảm nhận những trách nhiệm cao hơn, nặng nề và phức tạp hơn. Tiếp cận quản lý phát triển đội ngũ nhân lực theo Christian Batal; Công rinh nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước”, Christian Batal đã kế thừa kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học khác như: giáo dục học, Dục báo học, Toán học….để đưa ra lý thuyết về quản lý phát triển nguồn nhân lực đồng thời đưa ra nội dung tổng thể quản lý nguồn nhân lực bao gồm các khâu từ kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực , hiệu quả quẩn lý nguồn nhân lực; Đồng thời các tác giả còn đưa ra cách tiếp cận theo phương pháp quản lý (phương pháp giáo dục, động viên, tuyên truyền, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương pháp hành chính, phương phá kinh tế) và tiếp cận nội dung phát triển đội ngũ; Từ đó các tác giả khẳng định; Việc lựa chọn cách tiếp cận nào là do ý thức lý luận và kết quả phân tích thực tiễn giáo dục của nhà nghiên cứu hay nhà quản lý quyết định.
Các khái niệm về công cụ và lý luận cơ bản 1. Quản lý, chức năng quản lý 1.1 Quản lý Quản lý là một hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội loại người, nó xuất phát từ những nhu cầu khách quan của cuộc sống con người, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin thì tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội là tồn tại những phương thức quản lý riêng. Mỗi xã hội khác nhau lại có những kiểu quản lý khác nhau, phản ánh khách quan trình độ tổ chức xã hội của xã hội đó.Taylor tác giả của học thuyết quản lý theo khoa học thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. Theo tập thể tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa kinh điển và đơn giản nhất: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quẩn lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5, tr. Theo tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục đào tạo thì “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của các cá nhân hướng đến mực đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.40] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo cách hiểu trên, quản lý tồn tại với tư cách như một hệ thống bao gồm những thành tố cấu trúc như sau: - Chủ thể quản lý: Trọng tâm thực hiện những tác động hướng đích, có chủ đích đến các đối tượng quản lý. Chủ thể quẩn lý có thể tồn tại với tư cách là cá thể nhưng cũng có thể là một tập thể.
- Đối tượng quản lý: Những đối tượng tiếp nhận tác động hướng đích của chủ thể quản lý và được biến đổi dưới những tác động này. Đối tượng quản lý rất đa dạng, từ giới vô sinh đến vật nuôi, cây trồng và con người cùng các tổ chức cũng như hành vi của nó. - Mục tiêu quản lý: Trạng thái đầu ra cần và có thể có của tổ chức. Mục tiêu chỉ đạt trong tương lai mà mọi hoạt động của tổ chức sẽ hướng đến để đạt được.
- Cơ chế quản lý: Phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý. Cơ chế quẩn lý bao gồm tập hợp những quy định có tác dụng điều khiển, điều chỉnh tốt mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý Cơ chế quản lý Mục tiêu quản lý Đối tượng quản lý Sơ đồ 1.1: Mô tả hệ thống cấu trúc hệ thống quản lý Như vậy, Quản lý là một tổ chức là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (những người bị quản lý) nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để đạt tới mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn luôn thay đổi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng của quản lý Trong thực tế các hoạt động quản lý được vận hành một cách có hệ thống, khoa học, linh hoạt trên cơ sở quản lý hành chức của mình.
Chức năng quản lý là nội dung, phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý một cách hiệu quả thông qua quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý tuy chưa được thống nhất cụ thể nhưng về cơ bản các nhà khoa học đều khẳng định quản lý có 4 chức năng đó là: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo điều hành; Kiểm tra đánh giá việc thực hiện. Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý. Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi nguồn lưc, tiềm năng đã có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ thống, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp khác nhằm đưa hệ thống đến trạng thái „đích mong muốn‟ vào thời điểm đã định theo kế hoạch.
Chức năng tổ chức: Là giai đoạn tiếp theo, tổ chức thực hiện kế hoạch đã được xây dựng. Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, nguồn lực, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch. Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể để đạt được mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất. Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, nhấn mạnh đến phương thức tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ thống vận hành thuận lợi.
Chỉ đạo là biến mục tiêu thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực. Chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện: Đây là giai đoạn cuối cùng của một chu kỳ quản lý, đồng thời tạo điều kiện cho chu kỳ tiếp theo của hoạt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động quản lý trong thực tế. Bằng việc đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa. quá trình này sẽ được cung cấp các thông tin cần thiết để thúc đẩy hệ thống đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và bổ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo.
Kế hoạch Kiểm tra, ĐG Tổ chức Thông tin thực hiện Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Quan hệ giữa các chức năng quản lý 1.2 Quản lý nhà trường Là một nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống quản lý giáo dục. Quản lý nhà trường là cấp quản lý cơ sở của ngành giáo dục. - Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý trường học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo đục của Đảng, thực hiện được các tính chất của Nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu chuẩn hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục với mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. - Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà tường vận hành theo nguyên lý giáo dục để hướng tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng người học.
Như vậy, quản lý nhà trường chính là công việc của Ban giám Hiệu đứng đầu là Hiệu trưởng. Dựa vào các chức năng quản lý của nhà trường mà Hiệu trưởng thực hiện nhiệm vụ giao phó. Việc quản lý đội ngũ giáo viên, VCHC 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong nhà trường là một trong những nhiệm vụ cơ bản để Hiệu trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà trường.