chương 1 cũng nêu ra một số vấn đề lý luận cơ bản về Chuẩn nghề nghiệp GV THPT và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nâng cao mức độ đáp ứng Chuẩn của GV THPT. Luận văn khảo sát phân tích qua kết quả đánh giá giáo viên trường THPT Thịnh Long theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT cho thấy: Giáo viên của trường có phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp tốt đáp ứng những yêu cầu của Chuẩn, đội ngũ GV của trường đủ về số lượng, đảm bảo chuẩn đào tạo nhưng thực chất còn nhiều hạn chế. Một số GV chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Tác giả đã đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên nhà trường đó là : Tuyên truyền GD, nâng cao nhận thức của GV và CBQL về yêu cầu và tính cần thiết của việc triển khai áp dụng chuẩn nghề nghiệp GV THPT; Phát triển công cụ nhằm đánh giá chính xác mức độ đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp của GV; Phát triển đào tạo, bồi dưỡng GV theo mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của GV THPT; Sử dụng đội ngũ giáo viên cốt cán THPT để hỗ trợ các giáo viên có mức độ đáp ứng chuẩn thấp; Tạo động lực cho giáo viên tham gia các hoạt động phát triển nghề nghiệp.
“Phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT thành phố Nam Định theo Chuẩn nghề nghiệp của tác giả Trần Thị Thu Trang”. Trong luận văn tác giả Trần Thị Thu Trang đã nghiên cứu cơ sở lí luận, hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu như: quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, phát triển, phát triển đội ngũ giáo viên, các vấn đề chuẩn hóa, Chuẩn nghề nghiệp, quản lý đội ngũ giáo viên gắn với các vấn đề chuẩn hóa. Mặt khác luận văn đã khảo sát và phân tích làm rõ thực trạng về công tác Phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT thành phố Nam Định theo Chuẩn nghề nghiệp: Số lượng, cơ cấu tương đối đồng bộ và hợp lí, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và trình độ năng lực đội ngũ cơ bản đáp ứng được việc thực hiện các nhiệm vụ được giao. Từ đó tác giả đề xuất 5 biện pháp chủ yếu xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên là: Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai áp dụng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học; Đẩy mạnh bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp; Tăng cường kiểm tra đánh giá đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp; Xây dựng văn hóa tổ chức tại nhà trường; Đảm bảo các điều kiện cho đội 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngũ giáo viên phát huy các phẩm chất sư phạm và khả năng chuyên môn nghiệp vụ; Xây dựng quy hoạch tạo nguồn phát triển đội ngũ giáo viên.
Một số đề tài khác như: “Biện pháp quản lý giáo viên trường THPT Thịnh Long –Tỉnh Nam Định đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học” của tác giả Phạm Thị Ngọc, “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp” của tác giả Nguyễn Quốc Nam,… Các đề tài trên đều đã đề cập đến vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về Quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên theo Chuẩn nghề nghiệp. Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện của giáo dục phổ thông, thực hiện mục tiêu chuẩn hóa và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT; quản lý đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu nhằm giúp GV xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Nghiên cứu đề tài này là một việc làm đang được lãnh đạo nhà trường, đồng nghiệp quan tâm và mong đợi.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con người, là công vệc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và quản lý mới được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa.
Bất kì một tổ chức, một tập thể nào cũng đều có yếu tố quản lý trong đó và điều đó quyết định tới hiệu quả hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đề ra. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý tùy theo quan điểm và cách tiếp cận. Có người cho rằng quản lý là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính chất cốt lõi của một số tác giả như sau: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: Quản lý là một hệ thống phát huy tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế. Theo ông: “quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [11, tr.17] Mary ParKer Follett (1868 - 1933) nổi tiếng với thuyết hành vi trong quản lý cho rằng quản lý là: “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được mục đích của tổ chức” [11,tr.
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hoạt động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11, tr. Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [19, tr. Từ rất nhiều quan điểm khác nhau nêu trên, có thể hiểu khái quát về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động, chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, nhằm đạt được mục đích đề ra.
Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác, phấn khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cả xã hội. Khái niệm quản lý bao hàm những khía cạnh sau: Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định, tồn tại trong không gian, thời gian cụ thể. Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý, giữa chúng có sự tác động tương hỗ, biện chứng với nhau. Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
Tác động quản lí thường mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều phương pháp khác nhau. Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật khách quan. Đó là các hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy luật và có hiệu quả, nhưng cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, hướng đến mục tiêu. Quản lý xét đến cùng, bao giờ cũng là quản lý con người.
Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người. Người quản lý tựu chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp, không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn là mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác. Như vậy quản lý thể hiện rõ bản chất khoa học ở chỗ: hoạt động này luôn có tính tổ chức, dựa trên những quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt động nhất định. Đồng thời hoạt động quản lý cũng chứa đựng sự sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt trong việc xử lí tình huống với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, để đạt được mục tiêu đề ra.
Điều này cho thấy quản lý cũng có tính nghệ thuật, đòi hỏi người quản lý phải không ngừng học tập, trau dồi, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện các kĩ năng cần thiết. Chức năng của quản lý Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản trong quá trình quản lý, là nhiệm vụ trọng tâm của người quản lý.
Nói tới các chức năng chủ yếu của quản lý, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức năng sau: Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản trong các chức năng QL. Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống QL để đạt được mục tiêu. Kế hoạch hoá giúp nhà QL có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi.
Tổ chức: Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một cơ quan nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của cơ quan đó. Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là điều kiện của quản lý, đúng như V.