phần mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về QL ĐNGV ở trƣờng ĐH và các trƣờng ĐHTT nói riêng. - Chƣơng 2: Thƣ̣c tra ̣ng QL ĐNGV ở các trƣờng ĐHTT Việt Nam. - Chƣơng 3: Giải pháp QL ĐNGV ở các trƣờng ĐHTT Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC VÀ TRƢỜNG ĐẠI HỌC TƢ THỤC NÓI RIÊNG 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề QL ĐNGV ở các trƣờng ĐHTT 1. Tổ ng quan các công trình nghiên cứu về QL ĐNGV ở các trường ĐHTT trên thế giới Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về QL ĐNGV ở các trƣờng ĐHTT, từ các công trình QL các trƣờng ĐH đến các công trình QL ĐNGV. Ở khu vực Châu Âu, nghiên cứu quản trị ĐH của Viện nghiên cứu Eurydice (2008) [105]: “Chính sách, cấu trúc, tài chính và QL ĐNGV các quốc gia Châu Âu đánh giá một cách tổng quan các vấn đề của hệ thống GDĐH Châu Âu, trong đó có đề cập đến QL ĐNGV, chỉ ra rằng hầu hết các nƣớc Châu Âu đang chuyển đổi các mô hình QL đội ngũ giảng dạy ĐH cho phù hợp với tình hình phát triển hệ thống ĐH theo hƣớng tăng cƣờng chất lƣợng, hiệu quả và nhà nƣớc kiểm soát chất lƣợng ĐH theo một hệ thống tiêu chí, trong đó có hệ thống tiêu chí QL ĐNGV ĐH. Nghiên cứu này, hơn nữa các quốc gia Châu Âu cho phép các ĐH tự chủ trong khâu tuyển chọn với phƣơng thức hợp đồng, số quốc gia còn lại theo khung qui định của bộ về lƣơng và thu nhập, hầu hết các quốc gia theo khung lƣơng của Nhà nƣớc, tuy nhiên các nƣớc nhƣ Hà Lan, Thụy Điển, Anh thì nhà trƣờng độc lập trong việc trả lƣơng [105, tr.
Hệ thống đánh giá chất lƣợng đội ngũ của các quốc gia này dựa vào đánh giá cá nhân, bên cạnh đó hệ thống đánh giá nội bộ là bắt buộc trong các trƣờng ĐH. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá đƣợc các cơ quan trung ƣơng thiết lập chung cho toàn hệ thống và các cơ quan QL chất lƣợng nhà nƣớc kiểm soát chặt chẽ chất lƣợng ĐH và chất lƣợng ĐNGV. Cũng theo nghiên cứu này, các quốc gia Châu Âu hiện đang đứng trƣớc nhiều thách thức trong việc QL ĐNGV ĐH, theo đó vấn đề lớn nhất là chất lƣợng và tài chính, cùng với hệ thống kiểm soát chất lƣợng. Nghiên cứu đề xuất một số 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải pháp: Xác định số lƣợng GV cần thiết đối với trƣờng trong bối cảnh thay đổi, xác định cụ thể tiêu chuẩn và khả năng GV, có chính sách thu hút và giữ chân GV, có hệ thống QL thành tích tốt, xây dựng một chính sách thƣởng thích hợp và có một chính sách linh hoạt để phát triển tối đa năng lực của GV [105].
Một nghiên cứu khác của ĐH Cardiff Anh quốc - một quốc gia có nền GDĐH chất lƣợng hàng đầu thế giới, đề xuất một mô hình QL đội ngũ giáo viên thiên về QL thành tích. Theo mô hình này, QL thành tích Phát triển đội ngũ Thông tin hiệu quả Lãnh đạo QL tốt đội ngũ. Theo mô hình này, QL thành tích giúp cho lãnh đạo sử dụng tốt và hiệu quả đội ngũ, phát hiện ngƣời làm việc giỏi, phát hiện thành tích để động viên họ nâng cao, giúp cho đội ngũ giáo viên và tự đánh giá họ để đạt thành tích, đóng góp cho nhà trƣờng” [105]. Trong tuyể n tâ ̣p “Quản lý GDĐH cấp cơ sở” tập 5, 6, 7 do UNESCO -IIEP phát hành bằng tiếng Anh 1996 (đã đƣợc ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh dịch 2000) có trình bày những quan điểm cơ bản trong QL GV ở một trƣờng Đ H cho bấ t cƣ́ loa ̣i hiǹ h trƣờng ĐH nào (trong đó có ĐHTT).
Luâ ̣n điể m chin ́ h ở đây có thể tóm tắ t nhƣ sau : Đối với GV, họ đƣợc QL điều hành theo cơ chế gắn với sự tự chủ và tính chịu trách nhiệm về khối lƣợng công tác giảng dạy, NCKH, và các hoạt động hành chính - sƣ phạm khác. Đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng , trong thời gian qua đã tổ chƣ́c nhiề u hô ̣i thảo khoa ho ̣c về phát triể n hê ̣ thố ng các trƣờng NCL. Vấn đề QL ĐNGV cũng đã đƣợc đề cập ở các hội thảo chuyên đề này [109]. Sự mở rộng và phát triển của GDĐH ở các nƣớc trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dƣơng là cần thiết cho sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Nhiều chƣơng trình cải cách kinh tế đƣợc khởi xƣớng bởi Chính phủ các quốc gia trong khu vực phụ thuộc vào nguồn nhân lực lành nghề đƣợc đào tạo từ các hệ thống GDĐH. Bởi vì, một quốc gia phải đạt tỷ lệ SV trong nhóm dân số ở độ tuổi học ĐH tối thiểu là 20% để trở thành một quốc gia “phát triển” , hầu hết các quốc gia trong khu vực , có thể ngoại trừ mô ̣t số nƣớc đã phát triển nhƣ Hàn Quốc , Nhật Bản… đang chú trọng phát triển nhanh hệ thống GDĐH trong đó có hê ̣ thố ng các trƣờng ĐHTT nhằm đáp ứng nhu cầu khổng lồ đối với GDĐH của lớp trẻ [109]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nƣớc Châu Á đã cho phép các trƣờng ĐHTT phát triển nhanh trong vài ba thập kỷ lại đây, những trƣờng này đóng góp vào sự đa dạng hóa và đại chúng hóa GDĐH và điều phối nhu cầu học tập (Levy 1986), từ 1986-2001 có 46 trƣờng ĐHTT ở Mông Cổ đƣợc thành lập (Sodnomtseren, 2006), Indonesia có 70 trƣờng ĐHCL và có hơn 1.700 trƣờng ĐHTT (Beerkens, 2002) [109], Việt Nam có 58 trƣờng ĐHTT (Bộ GD&ĐT Việt Nam, 2010). Tuy nhiên hệ thống GDĐH công lập đã và đang trở nên quá cứng nhắc và thiếu linh hoạt đối với nhu cầu cũng nhƣ yêu cầu đang thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội năng động [109].
Trong bối cảnh này, khu vực GDĐH công lập và NCL cần cùng chia sẻ trách nhiệm để giải quyết những thách thức đề ra. Vai trò của khu vực GDĐH NCL đang trở nên rất quan trọng. Thậm chí, các hệ thống GDĐH NCL đƣợc hy vọng là sẽ đóng vai trò quan trọng ngang với các hệ thống GDĐH công lập trong việc thực hiện những cải cách lớn đối với quá trình nâng cao chất lƣợng, hiệu quả và sự phù hợp tổng thể. Kết quả là toàn bộ hệ thống GDĐH sẽ trở nên hiệu quả hơn.
Chính phủ các nƣớc có vai trò tạo điều kiện thuận lợi thông qua việc ban hành pháp luật phù hợp. Thúc đẩy sự phát triển thông qua việc đƣa vào thực hiện các chính sách kích thích sự phát triển của GDĐH NCL. Đặc biệt hoàn thiện chính sách đối với ĐNGV nói chung và GV ở ĐHTT nói riêng. “Người ta cho rằng quyền tự quản là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển của cơ sở GDĐH NCL.
Các cơ sở GDĐH NCL nên được tự do xác định mục tiêu, cơ chế và mô hình QL quá trình hoạt động. Tính độc lập, tự chủ và linh hoạt là các điều kiện cần thiết đối với các cơ sở GDĐH NCL. Trách nhiệm của Nhà nước không chỉ bao gồm việc phê duyệt, điều chỉnh và giám sát mà còn bao gồm việc hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức GDĐH NCL. Hỗ trợ ở đây có thể bao gồm trợ cấp tài chính dưới hình thức các khoản vay dành cho các cơ sở GDĐH, học bổng và các hỗ trợ về tài chính dành cho SV.
Đồng thời, nên khuyến khích sự cạnh tranh công bằng giữa các cơ sở GDĐH công lập và NCL nhằm nâng cao chất lượng. Chính phủ phải thiết lập một hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng chi tiết và phù hợp. Mặc dù có trách nhiệm quan trọng trong việc phát triển GDĐH NCL, nhà 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước không nên can thiệp quá nhiều vào công tác QL của các cơ sở GDĐH NCL. Đồng thời, bản chất xã hội của GDĐH NCL phải phù hợp với từng hệ thống xã hội cụ thể” [101].
Các trƣờng ĐHTT ở các nƣớc Châu Á phát triển nhanh đóng góp vào sự phát triển đa dạng của hệ thống GDĐH và yêu cầu phát triển của các nƣớc này. Tuy nhiên cũng nảy sinh nhiều khó khăn và thách thức, nhƣ chất lƣợng đào tạo không đƣợc đảm bảo, CSVC, kỹ thuật thiếu thốn, CTĐT bất cập và nhất là ĐNGV vừa thiếu về số lƣợng và yếu về chất lƣợng (Altbach, Reisberg and Rumbley, 2009). Các trƣờng ĐHTT thƣờng không có đủ ĐNGV đƣợc đào tạo chất lƣợng, một số lớn GV đƣợc tập hợp từ các trƣờng ĐHCL đã nghỉ hƣu, từ doanh nghiệp hoặc các cử nhân mới tốt nghiệp. GV lớn tuổi thì giảng dạy bán thời gian để tăng thu nhập, GV trẻ thì chƣa có kinh nghiệm nhiều (Lin, 2005) [102].
Từ thực trạng trên, các trƣờng ĐH Châu Á đều quan tâm đặc biệt đến vấn đề QL ĐNGV, nhất là việc tuyển chọn, phát triển cùng với các chính sách thu hút hấp dẫn sẽ có thể nhanh chóng xây dựng ĐNGV cho riêng mình, tăng chất lƣợng đào tạo bên cạnh việc đổi mới CTĐT và đầu tƣ về CSVC. Có nhƣ vậy các trƣờng ĐHTT mới có thể đứng vững và cạnh tranh đƣợc trong hệ thống giáo dục đa dạng mang tính cạnh tranh nhƣ hiện nay. Theo nghiên cứu của David Chapman (2009) ĐH Minnesota, các trƣờng ĐH Châu Á có một số thách thức trong quản trị nhân sự nhƣ sau: - Tăng cƣờng khả năng giảng dạy của ĐNGV: Do số lƣợng và chất lƣợng đầu vào của SV đã ảnh hƣởng đến ĐNGV trên 4 vấn đề sau: i) Phải tuyển GV ít sàng lọc; ii) Đầu vào SV trung bình nên GV khó khăn hơn trong giảng dạy, họ cần nhiều kỹ năng hơn để giảng dạy cho đối tƣợng SV khác nhau về trình độ và khả năng học thuật thấp; iii) Một số nƣớc hƣớng về SV (hơn là quan tâm đến chất lƣợng ĐNGV) những ngƣời đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tài chính của các trƣờng (Salmi, 2009); iiii) Lƣơng của GV là một áp lực do nhà trƣờng phải trang trải chi phí cho đầu tƣ về CSVC mở rộng qui mô khi SV tăng. GV tìm cách tăng thu nhập bằng cách dạy thêm và những công việc khác ít dành thời gian cho công việc giảng dạy chính của mình và công tác NCKH.
- Tìm kiếm GV khi số lƣợng SV tăng, nguồn cung cấp GV chủ yếu bằng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.