CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực NNL là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất.
Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Trong các lý thuyết về “vốn”, về “tăng trưởng”, thì NNL đều được coi là yếu tố hàng đầu, đảm bảo cho sự phát triển sản xuất và dịch vụ. Tuy nhiên có nhiều cách tiếp cận khái niệm NNL dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo giáo trình Quản lý nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội do Nguyễn Minh Phương chủ biên, “NNL tổ chức là những người có năng lực, trong độ tuổi lao động, đang tìm kiếm việc làm hoặc được tổ chức tuyển dụng vào làm việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức”, 24:15 Như vậy ta có thể thấy, NNL được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: NNL được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất và tài chính. Do đó, NNL được nghiên cứu trên góc độ số lượng và chất lượng.
Số lượng NNL được hiểu thông qua quy mô, tốc độ tăng trưởng và sự phân bố NNL theo khu vực, lãnh thổ. Chất lượng NNL được nghiên cứu trên các khía cạnh: trí lực, thể lực và tâm lực. Theo nghĩa hẹp: NNL được hiểu là nguồn lực lao động. Do đó, nó có thể lượng hóa được một bộ phận của dân số bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, hay còn gọi là lực lượng lao động.
Khái niệm nguồn nhân lực của trường đại học NNL của trường đại học được hiểu là đội ngũ viên chức, giảng viên và nhân viên phục vụ của nhà trường, trong đó trung tâm là đội ngũ giảng viên. Trong một 8 tổ chức, NNL không chỉ bao gồm cơ cấu hiện tại mà nó bao gồm cả nguồn lực có khả năng và sẵn sàng tham gia vào tổ chức cũng như số lượng có thể rút lui khỏi tổ chức. Vì vậy, NNL trong các trường đại học bao gồm hai đối tượng chính: viên chức, giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm nhiệm. Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian nên trong luận văn sẽ chỉ dừng ở đội ngũ viên chức, giảng viên cơ hữu.
Xét trên phương diện NNL thì đội ngũ giảng viên chính là NNL chất lượng cao và có những đặc điểm: - Nhiệm vụ chủ yếu của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. - Những thành viên trong đội ngũ đã được tuyển chọn tương ứng với một hệ thống các tiêu chí về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp; - Các thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng mà Nhà nước đã giao phó đối với hoạt động đào tạo ở đại học và cao đẳng - Mỗi thành viên, mỗi bộ phận của đội ngũ thực hiện những chức trách và nhiệm vụ chuyên biệt tùy thuộc vào vị trí và đặc điểm của môi trường hoạt động, song đều chịu sự quản lí thống nhất về thể chế, về tổ chức, về chuyên môn theo qui định của Nhà nước; Đáp ứng yêu cầu phát triển NNL xã hội ngày càng cao, đòi hỏi giáo dục đại học cần có các yêu cầu cao về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức đối với đội ngũ viên chức, giảng viên trong các trường đại học. Vì vậy, người giảng viên đại học cần phải phấn đấu để có trình độ chuyên môn cao và thường xuyên tiếp cận tri thức mới, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để có thể phục vụ tốt sự nghiệp giáo dục được coi là “quốc sách hàng đầu” của quốc gia. Người giảng viên đại học là nhà khoa học có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất và năng lực tư duy khoa học của nhà nghiên cứu, thường xuyên tham gia nghiên cứu khoa học, nắm bắt kịp thời các thông tin khoa học mới, kiến thức mới để truyền đạt lại cho sinh viên.
Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ chủ yếu của người giảng viên. 9 Như vậy, giảng viên là những người lao động trí thức, với đặc trưng lao động trí tuệ sáng tạo, họ là những người làm công tác giảng dạy, trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục đại học nhằm đào tạo đại học và cao đẳng có trình độ cao, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước, là lực lượng chủ yếu giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường. Năng lực của đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định chất lượng giảng dạy và học tập của các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng. Ngoài năng lực chuyên môn là giảng dạy, một yêu cầu khác đối với người giảng viên là phải tích cực trong các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Để đạt được mục tiêu này ngoài sự vươn lên của mỗi một giảng viên, thì vai trò không kém phần quan trọng thuộc về các cơ sở đào tạo. Phát triển đại học mà cụ thể là phát triển đội ngũ giảng viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với các trường đại học công lập 1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực của trường đại học Phát triển NNL là nâng cao năng lực cho các cá nhân để hoàn thành các nhiệm vụ hiện tại và tương lai. Phát triển NNL bao gồm các hoạt động chính: phát triển số lượng NNL, chất lượng NNL, và cơ cấu NNL; là quá trình xây dựng, phân bổ và sử dụng NNL một cách hiệu quả nhất, trong đó, quan trọng là chất lượng NNL (thể hiện ở 3 phương diện: phát triển về thể lực, trí lực và tâm lực).
Phát triển về thể lực và tâm lực liên quan đến nhiều chính sách như: y tế, dinh dưỡng, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức, tinh thần trách nhiệm của người lao động. Phát triển về trí lực bao gồm nhiều nội dung như: giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng, tức năng lực của NNL. Đặc điểm, vai trò nguồn nhân lực của trường đại học 1. Đặc điểm nguồn nhân lực của trường đại học 1.
Nguồn nhân lực có học vấn cao Xuất phát từ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đào tạo, NNL của trường đại học phần lớn có học vấn cao, đặc biệt ở đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, viên chức làm công tác quản lý. Bên cạnh đó, với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, chất 10 lượng NNL của trường đại học ngày càng có yêu cầu cao hơn về trình độ học vấn. Vì vậy, NNL của trường đại học không ngừng được nâng cao về chất lượng, về trình độ học vấn. Nguồn nhân lực có đặc trưng là lao động trí tuệ, sáng tạo NNL của trường đại học gắn với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, lao động mang tính trí tuệ, sáng tạo.
Với sự phát triển của KH&CN, tri thức sáng tạo ngày càng nhiều và tốc độ tiến bộ ngày càng cao hơn, sự lạc hậu về tri thức cũng nhanh hơn vì vậy, NNL của trường đại học phải không ngừng nâng cao trình độ tri thức. Hơn nữa, thế kỷ XXI là thế kỷ của sáng tạo, để có học viên, sinh viên sáng tạo thì cần phải có NNL giáo dục đào tạo thực sự tiêu biểu về trí tuệ, sáng tạo. Nguồn nhân lực tạo ra sản phẩm là con người có trình độ, nhân cách Sản phẩm của quá trình đào tạo đại học là sản phẩm đặc biệt, là những con người được đào tạo về trình độ, nhân cách. Để có con người có trình độ, nhân cách phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quá trình đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng.
Điều này đòi hỏi NNL của trường đại học phải thực sự là những trí thức có trình độ, có ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp cao. Lao động nghề nghiệp chủ yếu của NNL trong trường đại học với những đặc trưng cơ bản: - Đặc trưng về công cụ lao động: Công cụ lao động chủ yếu và quan trọng nhất của lao động sư phạm chính là bản thân người giảng viên với toàn bộ nhân cách của người thầy, bao gồm: Tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, niềm tin, lối sống, nếp sống, tri thức, trong đó tri thức có vai trò rất quan trọng. Chính năng lực và phẩm chất của người thầy có sức lôi cuốn, khích lệ rất lớn đối với sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu. Nhân cách người thầy càng hoàn hảo thì công cụ lao động của người thầy càng sắc bén, là điều kiện thuận lợi để người thầy đạt hiệu quả cao trong lao động sáng tạo của mình.
- Đặc trưng về sản phẩm lao động: Sản phẩm lao động sáng tạo của NNL nói chung người giảng viên đại học là nhân cách của người học, gồm toàn bộ các giá trị về thể chất và tinh thần của người học sau khi trải qua quá trình đào tạo của một 11 khoá học (họ trở thành những người lao động trí thức với đầy đủ các phẩm chất và năng lực cần có trong một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất định) và những kết quả nghiên cứu khoa học. Sản phẩm lao động sáng tạo của NNL, cụ thể là của người giảng viên đại học rất khó xác định được một cách cụ thể về mặt định lượng mà chủ yếu được đánh giá gián tiếp thông qua giá trị khoa học của bài giảng (lượng thông tin, phương pháp tiếp cận, sự nhận thức, tiếp thu của sinh viên), giá trị lý luận và thực tiễn của những phát minh khoa học mà họ tạo ra. Tất cả những sản phẩm đó không chỉ đánh giá đơn thuần bằng những con số cụ thể, ngay lập tức, mà có khi phải vài năm, thậm chí hàng chục năm sau, những phát minh khoa học, tiềm năng của sinh viên ra trường mới phát huy tác dụng và nở rộ khi gặp điều kiện thích hợp. - Đặc trưng về giáo dục: Giáo dục đại học khác với giáo dục phổ thông về mục tiêu, nội dung và phương pháp.
Giáo dục phổ thông nhằm dạy cho học sinh ở tuổi vị thành niên những kiến thức phổ thông cơ bản về thế giới và xã hội.