CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực xã hội. Tuy nhiên có thể xác định “nguồn nhân lực xã hội chính là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Trong từ điển thuật ngữ Pháp (1977 – 1985) quan niệm nguồn nhân lực xã hội không bao gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc.
Ở Việt Nam, theo quy định của Tổng cục thống kê khi tính toán nguồn nhân lực xã hội còn bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Cũng có một số quốc gia quan niệm nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người từ độ tuổi bước vào tuổi lao động trở lên, có khả năng lao động. Như vậy theo họ không có giới hạn trên. Từ những sự khác nhau đó dẫn đến một số sự khác nhau trong tính toán quy mô nguồn nhân lực.
Vấn đề là ở chỗ, những chênh lệch đó không đáng kể vì số người trong độ tuổi có khả năng lao động chiếm đa số tuyệt đối trong nguồn nhân lực. Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc diểm quan trọng nhất sau đây: + Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người + Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động; + Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội. Bản chất, đặc điểm và vai trò nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hiểu là nguồn lực của con người là “một bộ phận của các nguồn nhân lực có khả năng huy động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính”. Như vậy nguồn nhân lực là tài sản đầu tiên cùng với vốn, tài sản để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Nguồn nhân lực là tài nguyên quý báu nhất và là một lợi thế cạnh tranh mang tính chất quyết định cuả doanh nghiệp. Nói cách khác, nguồn nhân lực của một kinh doanh nghiệp là nguồn nhân lực của toàn bộ những người lao động trong doanh nghiệp (cán bộ, công nhân viên, lao động), nó được đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn nhân lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên. Nguồn nhân lực được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng.
Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu về số lượng này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tăng trưởng của doanh nghiệp. Quy mô của doanh nghiệp càng lớn, tốc độ tăng trưởng càng cao cũng sẽ dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: Tình trạng sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất. Vì nguồn nhân lực cũng như các nguồn nhân lực khác của doanh nghiệp như vốn và tài sản biến động theo thời gian, do vậy nguồn nhân lực của doanh nghiệp cũng được xem xét trong những khoảng thời gian nhất định.
Với sức lao động và khả năng lao động được biểu hiện ở thể lực và trí lực của người lao động. Do vậy, nguồn nhân lực của doanh nghiệp phải được biểu hiện trên hai phương diện: Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. 7 • Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Từ thực tế sản xuất cho thấy, con người sáng tạo ra công nghệ mới, nhưng vì thiếu đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng tương ứng, không kịp đổi mới cơ chế quản lý, điều hành dẫn đến không phát huy hiệu quả sản xuất, cho dù doanh nghiệp được trang bị hiện đại tiên tiến. Triết lý kinh doanh chuyển từ coi công nghệ trung tâm sang coi con người trung tâm với những ưu thế tri thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Như vậy, sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã không làm giảm đi vai trò của nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng mà còn trở thành lợi thế cạnh tranh tính chất quyết định cho mọi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hiện đại với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức. Chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong sự phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. - Sự phát triển của doanh nghiệp là dựa vào sự phát triển năng lực chuyên môn của mọi người lao động trong doanh nghiệp và ngược lại.
Muốn có năng lực lao động thì con người phải có một cơ thể khỏe mạnh, một trạng thái tinh thần vui vẻ, trẻ trung, hưng phấn, có tinh thần chủ động việc, có ý thức sáng tạo cái mới, có khả năng thích ứng với môi trường tổ chức và văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp. - Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn nhân lực đảm bảo cho nguồn sáng tạo trong tổ chức.
Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hóa, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Không có những con người làm việc có hiệu quả thì doanh nghiệp không thể đạt tới mục tiêu. - Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược. Trong điều kiện kinh tế xã hội đang phát triển sang kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó.
Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng. 8 - Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận. Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp càng phát triển và nguồn lực của con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, đồng thời cũng thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người.
Như vậy, con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, mà còn tạo ra những điều kiện để hoàn thành chính bản thân con người. Sự đầu tư cho con người trong công việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân làm nâng cao mức sống của toàn xã hội và nhờ đó tạo khả năng, năng suất lao động. Phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Tùy theo cách tiếp cận, khái niệm nguồn nhân lực có thể khác nhau.
Phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người trên các phương diện: - Nâng cao sức khỏe, thể lực; - Nâng cao trình độ văn hóa; - Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; - Bố trí sử dụng phù hợp năng lực, sở trường người lao động; - Nâng cao tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo; thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc và xã hội; mức độ sẵn sàng tham gia lao động …); - Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật… - Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động… Phát triển nhân lực có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư. Phát triển nguồn nhân lực luôn có sự vận động, phát triển đi lên theo hướng tích cực và cũng có nhiều thách thức đặt ra đối với nguồn nhân lực. Sự vận động tích cực của nguồn nhân lực ở trình độ ngày càng cao hơn mang tính quy luật, là cơ sở để cải tiến xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất – tinh thần và hoàn thiện con người lao động. 9 Trong phạm vi doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, phát triển nguồn nhân lực cần tập trung vào những nội dung chủ yếu dưới đây.
NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ người lao động Theo từ điển giáo dục học thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ là tổng số kiến thức và kỹ năng tiếp thu được trong quá trình học tập rèn luyện trong một chuyên ngành, một nghề nghiệp nhất định và được thể hiện bằng kết quả tham gia hoạt động thực tế trong ngành nghề đó. Việc nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động phải xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, trên cơ sở đánh giá nguồn nhân lực hiện có. Nói cách khác, khi xác định mục tiêu nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động cần trả lời các câu hỏi: bộ phận nào có nhu cầu đào tạo? Đào tạo những kiến thức kỹ năng nào? Cho loại lao động nào? Số lượng người? Thời gian đào tạo bao lâu? Cụ thể, để trả lời các câu hỏi trên, các phân tích cần thực hiện là: - Phân tích doanh nghiệp: + Phân tích mục tiêu phát triển của doanh nghiệp + Phân tích nhu cầu nguồn nhân lực của doanh nghiệp + Phân tích hiệu suất của doanh nghiệp - Phân tích đội ngũ lao động: + Những đối tượng nào cần được đào tạo + Chuyên môn cần được đào tạo + Số lượng người cần được đào tạo + Thời giàn, hình thức đào tạo… Để nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo dài hạn, ngắn hạn; chính quy và không chính quy; đào tạo qua trường lớp hoặc kèm cặp qua thực tế lao động… 10 1.
Sắp xếp bố trí công việc phù hợp với năng lực, sở trường của người lao động Người lao động có kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cao là điều kiện quan trọng để họ có cơ hội phát triển, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần. Để sử dụng được kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ đó đòi hỏi người lao động phải được sắp xếp, bố trí công việc phù hợp với năng lực, sở trường. Đãi ngộ người lao động Đãi ngộ người lao động trực tiếp quyết định động lực, động cơ làm việc của người lao động.