CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH 1. Một số khái niệm 1.Khái niệm nguồn nhânlực Đề cập đến các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất, Mác viết: Sức lao động là "toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó". Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội.
Trong quá trình lao động, con người tích lũy được kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện cả thể lực, trí lực.Mác đã khẳng định sức lao động là nguồn nhân lực tham gia vào quá trình phát triển sản xuất của xã hội. Tuy vậy, thuật ngữ nguồn nhân lực thực sự được sử dụng nhiều từ thập niên 80 của Thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Có thể nói, sự xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. Tuy nhiện, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc thì "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước". Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển KT-XH trong một cộng đồng. Ngân hàng Thế giới lại cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao 5 --- gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân, tức xem xét nhân tố con người với tư cách là một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Tổ chức Lao động Quốc tế thì định nghĩa: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Quan điểm này được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển do đó nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham giải lao động sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Các nhà khoa học Việt Nam cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực. Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX – 07, khi xét trên bình diện quốc gia hay địa phương thì "Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển KT- XH của một quốc gia hay một địa phương. Như vậy, theo quan niệm này, nguồn nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phương.
Có thể hiểu, nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế chính trị Nguồn nhân lực thướng được hiểu là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm do lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Khái niệm phát triển nguồn nhânlực Do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, cho nên có nhiều cách hiểu khác nhau khi đề cập đến khái niệm phát triển nguồn nhân lực. Tổ chức Liên hợp quốc cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là quá trình bao gồm: giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp quốc thì quan niệm: Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia, nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua GD&ĐT, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO) thì sự phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại quan niệm là phát triển nguồn nhân lực, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người.
VS Phạm Minh Hạc thì: "Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là quá trình làm tăng giá trị con người trên các mặt như: trí tuệ, kỹ năng, thể lực, đạo đức, tâm hồn. làm cho con người trở thành những người có năng lực, phẩm chất mới và trình độ cao đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển KT-XH". Từ các luận điểm trên, có thể thấy rằng: phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực triển các mặt: thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Nói một cách khái quát, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ KT-XH và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.Khái niệm về du lịch và ngành dulịch Mặc dù du lịch đã được hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ khá nhanh, song cho đến nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất về cách hiểu.
Ở Việt Nam, tại Điều 4, Luật du lịch năm 2005 thì: Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh. Ngành du lịch là một ngành kinh tế có chức năng tổ chức các dịch vụ phục vụ những nhu cầu du lịch của khách như: đi lại, ăn ở, vui chơi, nghỉ ngơi, thăm viếng, tham quan, khám phá, thử thách v.v…Ngành du lịch là một ngành kinh tế có chức năng tổ chức các dịch vụ phục vụ những nhu cầu du lịch của khách. Ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch đã có lịch sử lâu đời, ở Việt Nam vẫn còn là lĩnh vực mới có nhiều tiềm năng và đang có nhiều cơ hội phát triển mạnh. Khái niệm nguồn nhân lực ngành du lịch Nguồn nhân lực ngành du lịch được hiểu là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Lao động trực tiếp bao gồm những công việc trực tiếp phục vụ du khách như trong khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, cơ quanquảnlýdulịch,…laođộnggiántiếpbaogồmnhữngcôngviệccungứng,hỗtrợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du lịch như: cung ứng thực phẩm cho kháchsạn,nhàhàng,cungứnghànghoáchocáccửahàngbánlẻphụcvụkháchdu lịch,cácdịchvụcủaChínhphủhỗtrợpháttriểndulịch,đàotạonhânlựcdulịch,xây dựngkháchsạn,sảnxuấtmáybay,cáctrangthiếtbịphụcvụkháchdulịch. Trong hoạt động du lịch, từ phía “cung du lịch” có nhiều thành phần tham gia vào hoạt động phục vụ khách du lịch, gồm: Tạicácđầumốigiaothông: Các hoạt động phục vụ khách du lịch đi qua bằng phương tiện giao thông đường hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển để đến điểm du lịch của họ được tổ chức tại hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đặc thù như: sân bay, nhà ga, 8 --- mạng lưới đường xá, cảng, các kho nhiên liệu, các phương tiện máy móc và sửa chữa,… Các dịch vụ và phương tiện phục vụ khách du lịch bao gồm: nhà hàng, quầy bar, cơ sở lưu trú, ngân hàng, viễn thông, các cửa hàng bán lẻ, của hàng sách…, và hoạt động của một số cơ quan quản ly nhân lực liên quan đến phục vụ khách du lịch như: biên phòng, xuất nhập cảnh, hải quan cũng được tổ chức tại đây. Tại điểm đến du lịch: Hoạt động của các doanh nghiệp phục vụ du lịch tuyến trước hay các doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với du khách bao gồm: Dịch vụ lưu trú – khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ mát; dịch vụ ăn uống - nhà hàng, quán Bar; dịch vụ vui chơi giải trí - các phương tiện thể thao, rạp hát, sòng bạc, công viên giải trí, viện bảo tàng, các sự kiện và hoạt động lễ hội; dịch vụ lữ hành, vận chuyển - các hãng lữ hành, phòng bán vé hàng không, xe tuyến, tàu hỏa, tàu thủy, taxi, xe chothuê.