CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về quản trị nguồn nhân lực 1. Nhân lực, nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Như chúng ta đã biết, sản xuất sản phẩm công nghiệp và dịch vụ có chất lượng cao đảm bảo khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của khách hàng đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng tốt.
Đó yếu tố chủ yếu, hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng của những lao động này là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng sản phẩm cho một doanh nghiệp. Nhân lực là yếu tố của bản thân con người. Theo cách hiểu đơn giản thì nhân lực gồm thể lực và trí lực.
Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ mỗi con người, mức sống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi. Trước đây, người ta xếp sức lao động của con người ngang bằng với các tư liệu sản xuất khác, tức là việc lập kế hoạch cho các vấn đề về nhân lực và các thiết bị sản xuất như nhau. Theo Frederick Winslow Taylor (1856-1915): “Con người là yếu tố phụ thuộc vào máy móc”. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nền sản xuất, các tri thức khoa học, công nghệ ngày càng được áp dụng rộng rãi và dần đóng vai trò quan trọng.
Con người với vai trò sản xuất ra các thiết bị công nghệ, làm chủ các phương tiện, thiết bị hiện đại đã trở thành trung tâm của nền sản xuất. Theo từ điển tiếng Việt: “Nhân lực là sức người dùng trong lao động sản xuất” hay sức lao động “là toàn bộ thể lực và trí lực trong mỗi con người, trong nhân cách sinh động của một con người thể lực và trí lực làm cho con người phải hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”. Sức lao động tồn tại gắn liền với bản thân con người, nó là sản phẩm của lịch sử, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên duy trì và hoàn thiện sau mỗi quá trình lao động. Như vậy, khi nói tới nhân lực là nói tới con người gắn với việc sản xuất ra một hoặc một số sản phẩm nào đó cho xã hội để giúp xã hội và bản thân người đó tồn tại và phát triển.
Khái niệm nguồn nhân lực Theo Liên Hợp Quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống và con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [4]. Nghĩa là, nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong tuổi lao động có khả năng lao động. Theo giáo trình PGS.TS Nguyễn Tiệp: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” [27]. Nguồn nhân lực có thể được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển. Nguồn nhân lực có thể với tư cách là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động [2]. Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tưổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất xã hội [19].
Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm trên, khái niệm nhân lực được hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực con người. Vì vậy trước hết và quan trọng khi nghiên cứu nhân lực là phải xác định vai trò quyết định của con người bằng lao động sáng tạo để xây dựng xã hội văn minh, không ngừng phát triển và hướng tới một mục tiêu đã định, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ nhất định. Quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm Quản trị nguồn nhân lực liên quan đến 2 vấn đề “quản trị” và “nguồn nhân lực”. Theo Trần Kim Dung [5, tr8], “Quản trị là quá trình làm cho những hoạt động được hoàn thành với hiệu quả cao thông qua người khác”.
Nói đến quản trị là nói đến sự phối hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật lãnh đạo. Về phương diện khoa học, quản trị gia thành công là người nắm vững kiến thức và kỹ năng quản trị. Về phương diện nghệ 5 thuật, quản trị gia thành công là người có năng lực bẩm sinh thể hiện ở: sự thông minh, tài thuyết phục, khả năng lôi cuốn người khác, có khả năng tổ chức, nắm bắt nhanh vấn đề và ra quyết định kịp thời, dễ hòa hợp với mọi người, tự tin và linh hoạt. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Đặc điểm của nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với các hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Do đó quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất nhưng lại hết sức quan trọng đối với quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp, bởi vì con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Như vậy, quản trị nguồn nhân lực chính là quá trình đánh giá, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp”[26, tr10], hay “Quản trị nguồn nhân lực là quá trình tác động, trong đó con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của sự tác động định hướng có ích đó” [26, tr11].
Để tạo ra một nguồn nhân lực tốt cho doanh nghiệp thì các doanh nghiệp cần chú trọng đến quy trình tuyển dụng nhân sự và phát triển họ trong quá trình làm việc ở doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai. Mặc dù quản lý nguồn nhân lực là hoạt động chức năng, nhưng vì yếu tố con người có liên quan đến mọi khâu, mọi bộ phận và mọi quá trình trong hoạt động kinh doanh nên đây là vấn đề liên quan đến tất cả các bộ phận, cá nhân trong tổ chức. Do vậy người quản lí phải hiểu được tầm quan trọng cũng như để có chiến lược và giải pháp tốt nhất. Trong lịch sử phát triển của quản trị nguồn nhân lực, có nhiều trường phái nhìn nhận và giải quyết vấn đề này rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Để hiểu sâu hơn về quản trị nguồn nhân lực, sau đây tác giả xin lần lượt nghiên cứu một số trường phái cơ bản. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Không có một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu quản trị nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực gắn liền với các hoạt động của tổ chức, với việc sắp xếp con người vào những vị trí nhất định trong bộ máy tổ chức, để đảm bảo cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp mang lại hiệu quả trong hiện tại và tương lai. Quản trị nguồn nhân lực thường là nguyên nhân của thành công hay thất bại của một tổ chức. Trong thời đại ngày nay, quản trị nguồn nhân lực có tầm quan trọng ngày càng tăng vì những lý do sau đây: - Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải không ngừng hoàn thiện tổ chức của mình theo hướng tinh gọn, năng động trong đó con người là yếu tố chính, yếu tố quyết định.
Việc tìm đúng người, giao đúng việc là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị. - Sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế buộc các nhà quản trị phải điều chỉnh và thích ứng để tồn tại và phát triển. Do vậy, việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân lực để phát huy hiệu quả là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị. - Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp các nhà quản trị học được cách tiếp cận với người khác, biết cách đặt câu hỏi, biết lắng nghe và tìm ra tiếng nói chung với nhân viên, nắm bắt được được các nhu cầu của nhân viên, đánh giá nhân viên một cách chính xác.
Đồng thời biết cách lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được sai lầm trong tuyển chọn và sử dụng lao động, nâng cao chất lượng công việc và hiệu quả cho doanh nghiệp. Xét về mặt kinh tế, quản trị nhân lực giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Xét về mặt xã hội, quản trị nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động. Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Mục tiêu kinh tế: Quản trị nguồn nhân lực nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả nhất sức lao động, tăng năng suất lao động.
Thông qua đó, tăng hiệu quả kinh tế, tạo tích lũy cho doanh nhiệp, thỏa mãn nhu cầu trang trải các chi phí, tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động, ổn định kinh tế gia đình. Ở tầm vĩ mô, quản trị nhân lực tạo điều kiện tăng thu nhập quốc dân, tạo tích lũy cho nhà nước, phát triển kinh tế xã hội. Mục tiêu xã hội: Quản trị nguồn nhân lực tạo công ăn việc làm, giải quyết được vấn đề lao động và việc làm cho xã hội, giáo dục, động viên người lao động phát triển phù hợp với tiến bộ xã hội.