Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực trong ngân hàng thương mại 1. Nguồn nhân lực Có nhiều nguồn lực đã đóng góp cho hoạt động, quá trình sản xuất, kinh doanh của tổ chức. Trong số các nguồn lực đó, có thể khẳng định nguồn lực con người là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hiện nay.
Vậy nguồn nhân lực (NNL) là gì? Nhiều tác giả đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Các khái niệm về nguồn nhân lực có thể chia thành 2 nhóm: (1) Các khái niệm có phạm vi rộng (xã hội); và (2) Các khái niệm ở phạm vi hẹp (tổ chức, doanh nghiệp): - Ở phạm vi xã hội: Theo Phạm Minh Hạc (2001), “NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó” [7]. Theo Trần Xuân Cầu (2014), “NNL được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một NNL của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [4].
- Trong phạm vi tổ chức, doanh nghiệp: Theo Amstrong (2010), “NNL là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức” [24]. Theo Lê Thị Mỹ Linh (2009), “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những NLĐ làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ 9 có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [15]. Mặc dù còn nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể thấy, NNL là một khái niệm có nội hàm rất rộng, bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa… của các đối tượng NLĐ trong xã hội hay trong các tổ chức, doanh nghiệp. Theo tác giả, NNL của tổ chức, doanh nghiệp bao gồm tất cả lực lượng lao động đang công tác, làm việc và có những đóng góp nhất định vào sự tồn tại và phát triển của tổ chức, doanh nghiệp đó.
Khi nói về NNL ta có thể nói đến ba vấn đề: số lượng, chất lượng và cơ cấu của NNL. Số lượng NNL thể hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng NNL. Về chất lượng NNL là nói đến thể lực, trí lực và tâm lực: (1) Thể lực của NNL được xác định gồm sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần; (2) Trí lực của NNL được xác định gồm trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của NLĐ; (3) Tâm lực được xác định gồm tính kỷ luật, tính tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong làm việc chuyên nghiệp, đồng thời phải có tinh thần trách nhiệm thể hiện trong thực hiện công việc và chịu trách nhiệm với kết quả làm việc của bản thân… Chất lượng NNL giữ vai trò quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp. NNL là nguồn lực với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lượng, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức.
Ngày nay con người được coi là nguồn “tài nguyên đặc biệt”, việc đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư có tính chiến lược, mà còn là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Cũng xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với sự phát triển cả ở tầm vĩ mô và vi mô, vấn đề phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) cũng đã và đang được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Theo Trần Xuân Cầu (2014), “PTNNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người. Nhìn từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.
Nhìn từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho mỗi cá nhân trưởng thành, có năng lực xã hội về thể lực, trí lực và nhân cách, đồng thời có tính năng động xã hội cao” [4]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quân & Nguyễn Vân Điềm (2014) lại cho rằng: “PTNNL, theo nghĩa rộng, là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của NLĐ” [22]. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “PTNNL bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là chiếm lĩnh ngành nghề hay vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân” [1]. Như vậy, hiểu một cách khái quát nhất, PTNNL, theo nghĩa rộng, là tất cả các hoạt động được thực hiện nhằm làm tăng số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Còn theo nghĩa hẹp hơn, theo tác giả, trong phạm vi các tổ chức, doanh nghiệp, PTNNL là các hoạt động do tổ chức, doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích nâng cao kiến thức, kỹ năng, sự hiểu biết của NNL, hướng tới nâng 11 cao khả năng thực thi công việc, nâng cao hiệu quả công việc cá nhân, giúp NNL phát triển nghề nghiệp và phát triển cá nhân trong tương lai, từ đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu chung của tổ chức, doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại Theo Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng (2017), khái niệm ngân hàng được hiểu như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện mọi hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng” [23]. Tùy theo tính chất và mục tiêu hoạt động của ngân hàng, ngân hàng có thể được chia thành các nhóm nhỏ hơn, bao gồm: (1) Ngân hàng thương mại; (2) Ngân hàng chính sách; (3) Ngân hàng hợp tác xã. Cũng theo Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng (2017), “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” [23].
Như vậy, có thể thấy ngân hàng thương mại (NHTM) chính là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chính là kinh doanh tiền tệ. NGTM là tổ chức kinh tế đặc biệt, có mức độ rủi ro cao trong hoạt động kinh doanh, tác động mạnh mẽ đến “sức khỏe” của nhiều doanh nghiệp khác cũng như “sức khỏe” của nền kinh tế quốc tế. Vì vậy, hoạt động của các NHTM luôn phải chịu sự giám sát chặt chẽ từ các thiết chế quản lý của nhà nước. Đồng thời, tự bản thân tính chất hoạt động của các NHTM cũng đòi hỏi bộ máy quản lý nói chung, bộ máy quản lý nhân lực nói riêng phải có sự vận hành hiệu quả nhất và liên tục được hoàn thiện.
Nguồn nhân lực của các NHTM, vì vậy, cần đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định, khác biệt hơn so với các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân. NNL trong các NHTM có một số đặc điểm nổi bật sau đây: - So với nhiều ngành nghề khác, đầu vào tuyển dụng NNL tại các NHTM khá cao và khắt khe cả về tâm lực, thể lực và trí lực, đặc biệt là yêu cầu về ngoại hình, trình độ chuyên môn và ngoại ngữ, công nghệ thông tin. 12 Tuy nhiên, do những bất cập khách quan của hệ thống đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay nên NNL tại các NHTM (dù phần lớn đã được đào tạo bài bản, bài bản) vẫn phải đào tạo. trước khi được giao công việc.
Vì vậy, hệ thống NHTM Việt Nam sau thời gian tăng trưởng nóng hiện đang gặp phải một số vấn đề nhất định. Một trong những nguyên nhân chính xuất phát từ sự bất cập về chất lượng NNL. - Với sự phát triển nhanh chóng của ngành ngân hàng Việt Nam, cũng như những thay đổi về hạ tầng công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế, một bộ phận NNL tại các NHTM có thâm niên vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc bắt kịp điều kiện kinh doanh mới. Thực tế này gây thêm khó khăn cho các NHTM trong việc quản lý NNL.
- Các NHTM hiện nay đang thiếu chuyên gia về NNL cũng như chưa thực sự quan tâm thoả đáng đến đội ngũ NNL chủ chốt và kế cận. - Cơ cấu NNL tại các NHTM theo giới tính ở một số bộ phận còn chưa cân đối. Thông thường, bộ phận giao dịch của các NHTM chủ yếu là nữ giới. Trong khi đó, những công việc ở bộ phận tín dụng hay thu nợ thường có tỷ lệ nam giới cao hơn.
Tuy nhiên, đặc điểm này phản ánh đặc thù của lĩnh vực ngân hàng. Trong quá trình thực hiện các hoạt động PTNNL trong các NHTM, cần chú ý các đặc điểm nói trên của NNL để lựa chọn thực hiện những phương pháp, cách thức phù hợp và hiệu quả. Phát triển nguồn nhân lực trong ngân hàng thương mại Từ các khái niệm ở trên, có thể đưa ra khái niệm PTNNL trong NHTM như sau: PTNNL trong NHTM là tổng thể các hoạt động của NHTM nhằm nâng cao vai trò NNL trong NHTM, chú trọng tầm nhìn dài hạn, nhờ đó gia tăng các giá trị bền vững cho cả NHTM, NNL và xã hội. PTNNL được nhìn từ góc độ NHTM, thường do chính ngân hàng tự hoạch định.
Bên cạnh đó, cần có sự nỗ lực của từng thành viên trong ngân hàng và đôi khi có sự hỗ trợ từ bên ngoài (vai trò của Nhà nước hoặc các chuyên 13 gia. Điều đó cũng có nghĩa: phát triển PTNNL trong NHTM cần được coi là nhận thức và nỗ lực chung của các bên liên quan chứ không đơn giản là việc thực hiện một trong các chức năng quản lý NNL ở NHTM.