Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực "NL là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tha m gia vào quá trình lao động con người có sức lao động" [4, tr.
"NL chính là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển" [16, tr. "NL là nguồn lực trong mỗi con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nó thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc, nó bao gồm sức khỏe, trình độ chuyên, tâm lý, ý thức, tinh thần trách nhiệm, mức độ cố gắng, khả năng linh hoạt sáng tạo, lòng say mê…" [24, tr. NL được xem xét dưới góc độ là khả năng mà mỗi cá nhân đem lại trong mọi hành động, thể hiện qua năng lực tiềm năng khi họ là một phần của tổ chức hoặc cộng đồng.
NL là trung tâm của mọi quá trình lao động, là yếu tố cơ bản thúc đẩy sự tăng trưởng của các nguồn lực như tài lực và vật lực. Không có NL, công việc sẽ trở nên thiếu hiệu quả. NL có khả năng phát triển, tái tạo và không có giới hạn. Hơn nữa, mỗi người đều mang trong mình nhiều năng lực chưa được khám phá hoàn toàn.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo World Bank (2000): "NNL là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát của mỗi cá nhân và của đất nước" [36, tr. "NNL DN là lực lượng lao động của từng DN, là số người có trong da nh sách của DN, do DN trả lương" [17, tr. 9 "NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thể CBCNV lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên" [8].
Vậy theo tác giả luận văn: "NNL trong DN được hiểu là tất cả NLĐ làm việc trong DN, trực tiếp tham gia vào các hoạt động hay giải quyết các vấn đề của DN". NNL trong DN có thể được đánh giá qua ba yếu tố: số lượng, chất lượng và cơ cấu Số lượng: NNL của DN gồm tất cả những cá nhân đang làm việc dưới một hợp đồng hoặc vị trí ổn định, từ những người chính thức cho đến những người hợp tác ngắn hạn hoặc dài hạn. Có những trường hợp, DN sẽ hợp tác với bên ngoài để thực hiện một dự án cụ thể hoặc nhu cầu đặc biệt. Chất lượng: NNL được đánh giá qua khả năng thực hiện công việc, bao gồm cả thể lực, trí lực, tâm lực, kỹ năng chuyên môn, ý thức công việc và phong cách làm việc.
Cơ cấu NNL: Nhân sự của doanh nghiệp có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí như chuyên môn, độ tuổi, kỹ thuật, và loại công việc (trực tiếp hay gián tiếp), v. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. CLNNL là khả năng đáp ứng yêu cầu, sự kỳ vọng của NSDLĐ về một hoặc nhiều thuộc tính cấu thành NNL. "Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của NLĐ cũng như sức khỏe của họ" [18, tr.
Với quan điểm này CLNNL được đánh giá qua: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trí lực và thể lực, các tiêu chí trên được đo lượng dễ dàng vì được định lượng qua các cấp bậc đào tạo chuyên môn. "Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của NLĐ, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc, .), phẩm chất 10 đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của NNL" [22, tr. "Chất lượng NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất" [4, tr. "Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.
Từ những khái niệm trên, tác giả luận văn cho rằng: "Chất lượng NNL là khả năng đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ, bảo đảm NNL hoàn thành mục tiêu theo sự kỳ vọng của DN". Nó bao gồm tất cả năng lực cấu thành của NNL như: Thể lực, trí lực, tâm lực và cơ cấu. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo tác giả nâng cao CL NNL là khám phá và phát huy khả năng của con người thông qua quá trình học tập, bồi dưỡng kiến thức, tập trung vào việc nâng cao SK tinh thần và vật lý. Để khai thác khả năng này hiệu quả trong công việc, việc tuyển chọn và sắp xếp NLĐ vào vị trí phù hợp, cùng với việc cung cấp một môi trường làm việc thuận lợi - từ trang thiết bị làm việc hiệu suất cao đến các chính sách ưu đãi - là vô cùng quan trọng.
Một môi trường văn hóa và xã hội tích cực sẽ khích lệ tinh thần và thái độ tích cực trong công việc. Việc điều hành và vận dụng NNL một cách hiệu quả, đồng thời đảm bảo rằng mỗi người được phân công công việc phù hợp với khả năng của họ, sẽ đóng một vai trò then chốt trong sự thịnh vượng của DN. Nâng cao CL NNL, về cơ bản là tăng giá trị của con người về phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, thẩm mỹ để có thể hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp và của chính bản thân họ. Đối với cá nhân NLĐ thì: Nâng cao CL NNL là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kĩ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội.
Đối với DN: Nâng cao CL NNL chỉ việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng nhân lực tăng lên so với chất lượng nhân lực hiện 11 có. Đó là sự tăng cường sức mạnh, kĩ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất, năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra trong những giai đoạn phát triển của DN. Vậy, nâng cao CL NNL trong DN là nâng cao mức độ thích ứng với công việc của người lao động trên ba phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu đề ra nhằm đạt được mục tiêu chung của DN. Các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp NNL là tài sản quan trọng nhất của một DN, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực cho hoạt động của DN.
Đó cũng là yếu tố cơ bản cấu thành nên, là điều kiện cho DN tồn tại và phát triển. Vì vậy, một DN được đánh giá lớn mạnh và phát triển hay không chủ yếu phụ thuộc vào CLNNL của DN đó. Hiện nay, yêu cầu của khách hàng không ngừng tăng lên, yêu cầu về sản phẩm cần phải không ngừng cải tiến. Để tồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh, DN cần áp dụng công nghệ mới, nâng cao CL sản phẩm và tối ưu hóa NNL.
Tuy nhiên, để thu hút khách hàng, giá của sản phẩm cũng phải tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Điều này đòi hỏi DN có đội ngũ NV tận tâm, sáng tạo và nhạy bén với xu hướng thị trường. Với tốc độ phát triển của KHCN, DN cần có một đội ngũ NV chuyên nghiệp và đào tạo liên tục để theo kịp xu hướng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao CLNNL.
NL chất lượng tốt sẽ giúp DN tạo ra sự khác biệt trên thị trường. Việc đầu tư vào đào tạo và phát triển con người cũng luôn là yếu tố quan trọng giúp xác định sự tăng trưởng của DN. Chất lượng NNL cao không chỉ là việc tăng cường kiến thức mà còn cần có các chính sách và biện pháp hỗ trợ, giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế và xã hội.1 Các yếu tố cấu thành Thể lực của NNL thể hiện qua trạng thái sức khỏe của NLĐ. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): "Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật".
12 SK là trạng thái cân bằng giữa thể chất và tinh thần của một cá nhân. Mặt thể chất, SK được biểu hiện qua khả năng vận động và hoạt động của cơ thể. Về mặt tinh thần, đó là sự ổn định và linh hoạt của hệ thần kinh, cùng với khả năng sử dụng trí tuệ để chuyển tư duy thành hành động thực tiễn. Để đánh giá SK, người ta dựa vào nhiều chỉ số như: kích thước cơ thể, trọng lượng, các giác quan, và SK liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau của cơ thể như hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ vận động, và các bộ phận khác như tai, mũi, họng.2 Các tiêu chí đánh giá Theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Quyết định số 1613/BYT-QĐ ngày 15/8/1997, SK được chia thành 5 loại căn cứ vào 13 chỉ số SK, bao gồm: Thể lực chung, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, tâm thần, thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, hệ vận động, ngoài da, hoa liễu, nội tiết, chuyển hóa và u các lọai.
SK được chia thành các loại sau: Bảng 1.