phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của QL HĐDH theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở trường THPT Chƣơng 2: Thực trạng QL HĐDH theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở trường THPT DTNT tỉnh Lạng Sơn Chƣơng 3: Một số biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng ở Trường THPT DTNT Lạng Sơn. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG Ở TRƢỜNG THPT 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Ở Việt Nam, nghiên cứu về QLGD, QL nhà trường, QL HĐDH đã được nhiều tác giả quan tâm. Các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của công tác QL trong việc nâng cao chất lượng DH.
Trong bối cảnh đổi mới GD, QL HĐDH thực sự là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng DH trong nhà trường. Đề tài về QL HĐDH ở trường THPT đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ như “Các giải pháp QL HĐDH nhằm nâng cao chất lượng GD các trường Trung học phổ thông vùng khó khăn ở Huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái” của Nguyễn Thế Bình; “Những biện pháp QL HĐDH ở trường THPT ngoài công lập Hà Nội trong giai đoạn phát triển hiện nay” của Ngô Trường Đức; “Một số biện pháp QL HĐDH ở trường THPT Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình trong quá trình thực hiện đổi mới CTGDPT” của Nguyễn Duy Thịnh… Song chưa có đề tài nào nghiên cứu về QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN. Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy, năm 2010 Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản bộ sách Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT, KN và bộ sách Luyện tập và tự kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng; Nhà xuất bản Đại học sư phạm xuất bản bộ sách DH theo Chuẩn KT, KN cho các môn học cấp THPT nhằm giúp GV soạn giáo án, giảng dạy theo Chuẩn KT, KN. Tuy nhiên, các bộ sách này cũng không đề cập đến việc QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN.
Luận văn này nghiên cứu thực trạng QL HĐDH ở trường THPT DTNT tỉnh Lạng Sơn và đề xuất các biện pháp QL để HĐDH bám sát Chuẩn KT, KN như đã quy định trong văn bản “Chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học phổ thông”. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Sử gia Daniel A.
Wren đã nhận xét rằng: “QL cũng xưa cũ như chính con người vậy”, tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình QL và dần dần hình thành nên các “lý thuyết” QL. Có nhiều cách tiếp cận nên có nhiều quan niệm khác nhau về QL. Theo Từ điển Tiếng Việt: “QL là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Trong khía cạnh khác “QL là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định” [18, tr.Mac, “QL là lao động điều khiển lao động”.Mác viết: “Bất cứ lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.
Fridrick Winslow Taylo đưa ra định nghĩa: “QL là biết được chính xác điều mà bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [33, tr. Henry Fayol thì khẳng định rằng, khi con người lao động hợp tác thì họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành. Ông đã phân biệt thành 5 chức năng cơ bản của QL là KH hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và KT và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của QL: KH, tổ chức, chỉ đạo và KT. Nhiều luận điểm của ông đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, QL gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá trình quản gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển [23]. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được MT của tổ chức” [42]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các quan niệm trên đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình QL: Phải có chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị QL tiếp nhận sự tác động của chủ thể QL. Giữa chủ thể và khách thể QL có mối quan hệ tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau, có MT và một quỹ đạo đặt ra cho chủ thể và đối tượng QL.
Có thể khái quát lại: “QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hoạt động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được MT đề ra một cách có hiệu quả nhất” [33, tr. Chức năng quản lý QL bao gồm các chức năng sau: - Dự báo và lập KH là một chức năng cơ bản của QL, trong đó phải xác định những vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các MT, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được MT, mục đích; các nguồn lực để đạt tới các MT. Dự báo và lập KH có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động của quá trình QL; là căn cứ cho việc KT-ĐG quá trình thực hiện MT của tổ chức. - Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các MT đã đề ra; đó cũng là một quá trình triển khai, điều phối các công việc, các mối quan hệ để thực hiện một công việc.
Cấu trúc tổ chức là tổng hợp các bộ phận, đơn vị và cá nhân khác nhau có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá, có quyền hạn và trách nhiệm nhất định được bố trí theo các cấp và các khâu khác nhau, nhưng cùng nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng QL, cùng hướng vào đích chung. Tổ chức thực hiện KH, thực chất là xác định câu trả lời cho câu hỏi ai làm, phân công phân nhiệm như thế nào và điều phối công việc, lực lượng ra sao để hoàn thành KH, đạt MT dự kiến. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lãnh đạo/Chỉ đạo là quá trình điều khiển, tác động, gây ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người bị QL nhằm đạt tới các MT mà người QL đã định. Lãnh đạo/chỉ đạo gồm: (1) Thực hiện quyền chỉ huy (giao việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, (2) Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích, (3) Giám sát và điều chỉnh, (4) Thúc đẩy các hoạt động phát triển.
Người QL cần tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng đạt tới các MT với chất lượng cao, đồng thời có biện pháp để biến yêu cầu chung thành nhu cầu của các thành viên, động viên mọi người tích cực, tự giác làm việc. - KTĐG là một chức năng của QL nhằm theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần thiết. Đó là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ. Người QL đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả sự thành đạt so với MT, chuẩn mực đặt ra.
KT-ĐG giúp cho người QL biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ nào, đồng thời cũng biết được các quyết định QL ban hành có phù hợp hay không, trên cơ sở đó mà điều chỉnh các hoạt động, thậm chí phải hiệu chỉnh, sửa chữa lại những chuẩn mực cần thiết. Quá trình QL được thể hiện bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Các chức năng trong chu trình QL KHDH Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Quá trình QL được diễn ra tuần tự từ chức năng lập KH đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và KT. Thực tế thì các chức năng này đan xen, hỗ trợ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lẫn nhau trong quá trình thực hiện.
Chất xúc tác và liên kết các chức năng này là thông tin QL và các quyết định QL. Quản lý giáo dục QLGD là một khoa học chuyên ngành, được nghiên cứu trên nền tảng của khoa học QL nói chung. Sau đây là một số khái niệm về QLGD. Nghị quyết lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng CS Việt Nam khóa 8: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [2].
Theo tác giả Trần Kiểm, QLGD là những tác động có hệ thống, có KH, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình GD về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em [41]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có KH, hợp quy luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình DH, GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD đến MT dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất… [46]. Các khái niệm trên đều phản ảnh bản chất của QLGD, đó là: Sự tác động có tổ chức, có định hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể QL ở các cấp lên đối tượng QL nhằm đưa hoạt động GD đạt được MT đã định. Ở cấp độ vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể QL đến tập thể GV, nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng trong xã hội nhằm đạt được MT GD.