Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trƣờng trung học phổ thông Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trƣờng trung học phổ thông hiện nay Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trƣờng trung học phổ thông 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học phân hóa và quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá ở nước ngoài Thời văn hoá phục hƣng, J.Cômenxki – Nhà GD vĩ đại, nhà sƣ phạm ngƣời Sec đã đƣa ra những tƣ tƣởng GD đạt tới đỉnh cao nhất của những tƣ tƣởng GD từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XVII, mở đƣờng một nền dân chủ, khoa học phát triển.Cômenxki rất quan tâm đến phƣơng pháp dạy học, các nguyên tắc dạy học và hình thức tổ chức dạy học. - Về phƣơng pháp dạy học: J.Cômenxki rất quan tâm đến phƣơng pháp dạy học khiến cho ngƣời ít lao lực hơn, nhà trƣờng đỡ vất vả hơn, loại bỏ đƣợc những công việc nhàm chán vô ích, nhƣng lại yên tĩnh, hồ hởi và đạt kết quả bền lâu.
Theo ông, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tƣợng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng quyền uy để bắt buộc, gò ép ngƣời ta chấp nhận bất kỳ một điều gì. - Về các nguyên tắc dạy học: J.Cômenxki đã đƣa ra một số nguyên tắc dạy học rất có giá trị là: Nguyên tắc trực quan; Nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của HS; Nguyên tắc hệ thống liên tục; Nguyên tắc củng cố kiến thức; Nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của HS; Nguyên tắc dạy học phải thiết thực và Dạy học theo nguyên tắc cá biệt. - Về hình thức tổ chức dạy học: J.Cômenxki là ngƣời đầu tiên đƣa ra kiến nghị đổi mới một cách sâu sắc quá trình dạy học nói chung và hình thức 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tổ chức dạy học nói riêng. Hình thức tổ chức dạy học trên lớp do ông đề ra là một sáng kiến vĩ đại, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Nghiên cứu về J.Cômenxki ta thấy: Tƣ tƣởng GD của ông là cơ sở lý luận để giải quyết đúng đắn vấn đề mới và hoàn thiện quá trình dạy học trong các nhà trƣờng. Ngày nay, những quan điểm của J.Cômenxki về phƣơng pháp, nguyên tắc, hình thức tổ chức dạy học vẫn còn ý nghĩa tích cực đối với lý luận dạy học hiện đại, giúp cho các nhà QLGD có cơ sở để vận dụng sáng tạo trong công tác của mình.[21] Trong giai đoạn lịch sử thế giới hiện đại, việc nâng cao chất lƣợng dạy học trong các nhà trƣờng đã trở thành vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Để nâng cao chất lƣợng dạy học, vai trò của công tác QL là hết sức quan trọng, đây là vấn đề luôn đƣợc các nhà nghiên cứu về QLGD quan tâm, họ đã nghiên cứu thực tiễn các nhà trƣờng để tìm ra các biện pháp QL hiệu quả nhất. Nhà nghiên cứu V.Xukhômlinxki cùng với một số tác giả khác nhƣ V.Goocscaia,…đã đƣa ra một số biện pháp QL của HT trƣờng phổ thông nhƣ sau: Việc phân công hợp lý công việc giữa HT và Phó HT phụ trách công tác dạy học.
Xây dựng và bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên. Tổ chức hội thảo khoa học Dự giờ và phân tích bài học [85] Từ những năm 80 của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, hình thành xã hội thông tin và xu thế toàn cầu hoá đã tạo nên một làn sóng đổi mới, cải cách GD trên thế giới (cải cách GD lần thứ ba). Trong cuộc cải cách lần này, xuất phát điểm để xem xét các vấn đề chủ yếu của các nƣớc tƣơng đối giống nhau với trọng tâm là: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - GD đại chúng dần thay thế cho GD tinh hoa. - Quan tâm đến việc hình thành các phẩm chất và năng lực cho thế hệ trẻ và ngƣời lao động về ý thức trách nhiệm, tính tích cực chủ động, năng động sáng tạo, thích ứng nhanh với những sự đổi mới, phát huy cá tính, bản sắc của ngƣời học.
- Thực hiện chƣơng trình cốt lõi (60%) thống nhất trong toàn quốc, đồng thời trao quyền tự chủ cho địa phƣơng, trƣờng học, nhà giáo, HS, sinh viên quyết định vận dụng linh hoạt khoảng 40% còn lại. - Đầu tƣ mạnh mẽ cho GD, giúp ngƣời học tiếp cận với những thành tựu hiện đại của khoa học công nghệ.[33] - Thực hiện dạy học theo quan điểm DHPH để nâng cao chất lƣợng dạy học mang tính nhân văn. Dƣới đây là một số hình thức dạy học phân hoá đã và đang đƣợc sử dụng ở bậc THPT của một số nƣớc trên thế giới. Đối với giáo dục ở nƣớc Pháp: Hệ thống giáo dục của Cộng hòa Pháp đặc trƣng cho mô hình hệ thống giáo dục châu Âu cổ điển.
Nội dung giáo dục hƣớng nghiệp trong trƣờng trung học (cao trung) đƣợc phân hóa theo nhiều ban hẹp, trong đó phần lớn là các ban kĩ thuật- công nghệ bao gồm nhiều môn văn hóa phổ thông và kĩ thuật nghề nghiệp. Nhìn chung kế hoạch dạy học ở tất cả các cấp học trong trƣờng phổ thông đều bao hàm các môn văn hóa phổ thông và các môn kĩ thuật- công nghệ với nội dung đƣợc thiết kế cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của từng cấp theo hƣớng tích hợp ở cấp I và phân hóa sâu ở cấp II và cấp III theo từng phân ban. Để chuẩn bị cho việc phân luồng học sinh THCS vào ba loại trƣờng THPT (ba loại trƣờng cao trung: trƣờng trung học phổ thông, trƣờng trung học công nghệ và trƣờng trung học nghề), từ cuối cấp THCS (lớp 9) việc phân hóa đƣợc thực hiện bằng hình thức phân ban và dạy học tự chọn. Lớp 9 có hai 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ban là ban phổ thông (còn gọi là ban ngôn ngữ) và ban công nghệ.
Ở mỗi ban đều có các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn bắt buộc và các môn học tùy chọn (lựa chọn tùy ý). Các HS học xong ban ngôn ngữ của trƣờng THCS đƣợc hƣớng tiếp tục học lên trƣờng THPT, còn các HS học xong ban công nghệ của trƣờng THCS đƣợc hƣớng tiếp tục học lên các trƣờng trung học công nghệ và trung học nghề. Ở lớp 10 THPT phân hóa theo hình thức dạy học tự chọn, lớp 11 và 12 đƣợc thực hiện bằng hình thức phân ban kết hợp với tự chọn. Có ba ban là: ban văn học- nghệ thuật còn gọi là ban ngôn ngữ hiện đại; ban kinh tế và khoa học xã hội; ban khoa học.
Đối với giáo dục ở nƣớc Nga: Bậc THPT ở những trƣờng sử dụng tiếng Nga chỉ có 2 lớp: lớp 10 và lớp 11. Phân hoá dạy học đƣợc thực hiện bằng cách kết hợp phân ban với giáo trình tự chọn và hoạt động tự chọn. Có 3 ban là ban Nhân văn; ban Toán- Khoa học tự nhiên và ban Công nghệ. Mỗi ban đƣợc chia thành các chuyên ngành khác nhau.
Chƣơng trình học tập của mỗi ban đều bao gồm một số môn học bắt buộc và một số giáo trình tự chọn. Mỗi môn học bắt buộc có thể có 3 loại giáo trình khác nhau là giáo trình cơ bản, giáo trình chuyên ban và giáo trình chuyên sâu. Đối với giáo dục ở nƣớc Trung Quốc: Nội dung dạy học ở các trƣờng phổ thông trung học bao gồm các môn văn hóa chung, các môn khoa học, kĩ thuật và lao động. Trong kế hoạch dạy học đã hình thành các môn học tự chọn ở các năm cuối bậc cao trung.
Nội dung các môn tự chọn đƣợc xác định trên cơ sở nhu cầu của học sinh; nhu cầu xã hội, điều kiện cụ thể của nhà trƣờng. Môn học tự chọn có thể là một môn học mới hoặc là một phần của môn học bắt buộc đƣợc biên soạn với nội dung mở rộng và sâu hơn. Hiện nay trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chƣơng trình giảng dạy thƣờng có các môn học tự chọn sau: máy tính, vẽ kĩ thuật, kĩ thuật điện, hải dƣơng học, y học cơ sở, văn học, ngoại ngữ,…. Mục tiêu của các môn học này là trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để học sinh có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế- xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học.
Đối với giáo dục ở nƣớc Mỹ: Bậc trung học là một bậc có nhiều loại hình trƣờng đa dạng với 3 nhóm chính. Nhóm các trƣờng trung học bậc thấp (Junior High Schools) và tiếp nối là trƣờng trung học bậc cao (Senior High School). Nhóm thứ hai là nhóm các trƣờng trung học (Middle School) tiếp nhận học sinh hết lớp 4 và học tiếp 4 năm để vào trƣờng trung học bậc cao (High School) với thời gian 4 năm. Nhóm thứ ba là loại hình trƣờng kết hợp (Combined Junior- Senior High Schools) với thời gian đào tạo 6 năm.
Nhƣ vậy, tuy có nhiều mô hình cấu trúc khác nhau bậc trung học phổ thông, nhƣng nhìn chung loại hình giáo dục phổ thông bao gồm 12 năm và kết thúc ở độ tuổi 17. Ở bậc trung học không hình thành riêng hệ thống các trƣờng phổ thông, kĩ thuật và nghề nghiệp nhƣ ở nhiều nƣớc khác mà các hƣớng đào tạo này chủ yếu đƣợc thể hiện ở cấu trúc chƣơng trình đào tạo theo các môn bắt buộc và tự chọn. Đối với giáo dục ở Nhật Bản: Việc giảng dạy ở cấp III theo hệ thống tín chỉ (Credit System). Mỗi môn học gồm một số tín chỉ.
Mỗi tín chỉ gồm 5 tiết học (mỗi tiết có 50 phút). Các môn học có hai loại: bắt buộc và tự chọn. Để tốt nghiệp cấp III, học sinh phải đạt đƣợc tổng số tín chỉ của các môn học bắt buộc. Chẳng hạn nhƣ quy định tổng số tín chỉ phải đạt đƣợc là 80 trong đó 38 tín chỉ của các môn bắt buộc 38/80.[60] Từ những xu thế trên có thể rút ra đƣợc một số nhận xét sau: 1.