phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động dạy học ở trƣờng trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Khái niệm quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thuật ngữ quản lí đƣợc định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [34]. Quản lý là một chức năng lao động- xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Ngay từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành nhóm, đã biết phối hợp các nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống.
Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể nhỏ nhƣ tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Ngƣời QL và đối tƣợng QL. Sự cần thiết của QL trong một tập thể lao động đƣợc K.Marx viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trƣởng” [22,Tr.Marx đã lột tả đƣợc bản chất của QL là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển loài ngƣời.
QL trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi ngƣời. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. QL là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học QL, tùy thuộc theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà các tác giả đƣa ra các định nghĩa khác nhau. Theo điều khiển học: QL là quá trình điều khiển của chủ thể QL đối với đối tƣợng QL để đạt đƣợc mục tiêu đã định.
Theo quan điểm của kinh tế học: QL là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Theo GS Hà Sĩ Hồ: QL là một quản trình tác động có định hƣớng, có chủ đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tƣợng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [20]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể của ngƣời lao động nói chung (khách thể QL) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến [18]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “QL là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức” [6].
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “QL là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu; QL là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trƣng cho trạng thái mới của hệ thống mà ngƣời QL mong muốn” [30]. Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “QL là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con ngƣời nhằm đạt hiệu quả tối ƣu theo mục tiêu đề ra” [27].Nguyễn Quốc Chí và PGS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lí là hoạt động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lí (ngƣời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lí) đến khách thể quản lí (ngƣời bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [2].
Khái niệm quản lý giáo dục * Khái niệm về giáo dục Để tồn tại và phát triển, con ngƣời phải trải qua quá trình lao động, học tập, con ngƣời nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy đƣợc kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau qua nhiều thế hệ dần trở thành giá trị văn hóa. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tƣợng giáo dục. Giáo dục lúc đầu xuất hiện nhƣ một hiện tƣợng tự phát, sau dần trở thành một hoạt động có ý thức. Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động đƣợc tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chƣơng trình, kế hoạch, có nội dung, phƣơng pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài ngƣời.
Nhƣ vậy, giáo dục là một hiện tƣợng xã hội loài ngƣời, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội khinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài ngƣời. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại đƣợc bảo tồn, kế thừa và bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn và trên cơ sở đó, xã hội loài ngƣời không ngừng phát triển tiến lên. * Khái niệm QL giáo dục QL giáo dục là sự tác động có thức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đƣa hoạt động sƣ phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. QL giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, ngƣời ta vận dụng lý luận QL giáo dục bắt nguồn từ lý luận QL xã hội đƣợc chia thành 3 lĩnh vực: “ Chính trị - 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xã hội”; “Văn hóa -Tƣ tƣởng”; “Kinh tế”. Từ đó có 3 loại QL: “QL chính trị - Xã hội”; “QL văn hóa -Tƣ tƣởng”; “QL kinh tế”. QL giáo dục nằm trong “QL văn hóa -Tƣ tƣởng” [9;Tr97]. Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học QL giáo dục” của M.Kondacov có viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu QL nhà trƣờng là hệ thống xã hội chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hƣớng của chủ thể QL trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trƣờng để đảm bảo sự vận hành tối ƣu của xã hội- kinh tế và tổ chức sƣ phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [25].
Theo GS Phạm Minh Hạc: QL giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức đƣợc các hoạt động dạy học, thực hiện đƣợc tính chất của nhà trƣờng phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL đƣợc giáo dục, tức là cụ thể hóa đƣợc đƣờng lối giáo dục của Đảng và biến đƣờng lối đó thành hiện thực, đáp ứng đƣợc nhu cầu học tập của nhân dân, của dân tộc [18]. Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “QL giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học -giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32]. Khái quát lại, nội hàm của khái niệm QL giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trƣng bản chất sau: Phải có chủ thể QL giáo dục.
Ở tầm vĩ mô là QL nhà nƣớc mà cơ quan trực tiếp QL là Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT; Ở tầm vi mô là QL của HT, phó HT của các trƣờng phổ thông. Phải có hệ thống tác động QL theo nội dung, chƣơng trình kế hoạch thống nhất từ TW đến địa phƣơng nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Phải có một lực lƣợng đông đảo những ngƣời làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật tƣơng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. QL giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ tốt công tác giáo dục.
Nhà trƣờng là đối tƣợng cuối cùng và cơ bản nhất của QL giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tƣợng QL quan trọng nhất, đồng thời là chủ thể trực tiếp QL quá trình giáo dục. Tóm lại: QL giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà QL giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Khái niệm quản lý nhà trường Trƣờng học là một tổ chức, ở đó tiến hành quá trình dạy học. Hoạt động đặc trƣng của trƣờng học là hoạt động dạy học, đó là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phƣơng pháp và phƣơng tiện, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà GD, có sự hoạt động tích cực, tự giác của ngƣời học.
Nội hàm của khái niệm quản lý nhà trƣờng đƣợc nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc diễn tả theo nhiều góc độ khác nhau.Kondacov: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu QL nhà trƣờng (công việc nhà trƣờng là một hệ thống xã hội- sƣ phạm chuyên biệt).