Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Sự phát triển của kinh tế Đông Á suốt mấy thập niên vừa qua là thành quả của nhiều chiến lược khác nhau, trong đó không thể không nhắc đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT. Ngay từ giai đoạn đầu tiên đi vào công nghiệp hoá (CNH), các nền kinh tế Đông Á đã ý thức rất sâu rộng về nhân lực là tài sản quý giá nhất của đất nước và là động lực quan trọng của nền sản xuất. Điều đáng chú ý là nhận thức trên không những của Nhà nước mà đã trở thành ý thức chung và nhất quán của tất cả chính quyền các địa phương lẫn nhân dân cùng các tầng lớp với những đối tượng có liên quan.
Ở các nền kinh tế Đông Á thì chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông qua GD – TĐ với chiến lược CNH có tính chất bổ sung và tương thích rất cao. Hai loại hình chiến lược trên không thể nào thành công được nếu chiến lược phát triển NNL thông qua GD – TĐ không được hoạch định để thoả mãn những mục đích đã đề ra ở từng thời kỳ của CNH. Cụ thể là ở giai đoạn chuẩn bị phát triển công nghiệp thì những nền kinh tế Đông Á (ngay kể cả Nhật Bản) đã đi chệch khỏi khoảng cách lớn so với những nền kinh tế Tây Âu và Hoa Kỳ. Các nền nước tại Đông Á có nguồn nhân lực đa dạng và phong phú nhưng vẫn còn thiếu hụt những nguồn lực để có thể cùng một lúc giải quyết tốt khá nhiều vấn đề cấp bách.
Để có thể nhanh chóng rút ngắn cách biệt tụt hậu và bắt kịp những nước phát triển thì các nước Đông Á không có cách nào khác để thực hiện thành công CNH là cần phải tiếp nhận công nghiệp nước ngoài. Muốn thực hiện thành công việc này thì những nước 7 Đông Á sẽ cần phải nâng cao trình độ dân trí và đào tạo thêm cho một lực lượng lao động có trình độ cao và thích hợp nhằm có thể tiếp nhận và sử dụng hiệu quả những kỹ thuật nước ngoài. Trong khi đó vì ý thức rõ vai trò to lớn của giáo dục tiểu học, cho nên những nền kinh tế nông nghiệp đã tập trung đầu tư cao nhất vào giáo dục tiểu học. Nhiều nền kinh tế thuộc nông nghiệp đã đầu tư một nửa ngân sách giáo dục vào giáo dục tiểu học.
Nhờ vậy, phần lớn những nền kinh tế nông nghiệp đã nhanh chóng tiến hành thành công việc phổ cập giáo dục tiểu học và làm nền tảng vững chắc thúc đẩy sự dịch chuyển cơ cấu lao động giản đơn từ nông lên công nghiệp cũng như thúc đẩy sự xây dựng và phát triển thành công những ngành nghề công nghiệp chế biến cần nhiều nhân lực. Đó cũng là một chuyển dịch thành công biến việc gia tăng trình độ giáo dục thành việc gia tăng năng suất lao động và sang việc gia tăng trình độ CNH của nền kinh tế. Vào giai đoạn dịch chuyển cơ cấu công nghiệp từ những hoạt động giá trị gia tăng thấp sang những hoạt động có giá trị gia tăng cao thì yêu cầu lao động thời bấy giờ không những là lao động giản đơn tốt nghiệp tiểu học như thời kỳ đầu đâu mà lại đòi hỏi nhân lực phải có tay nghề cao hơn nữa. Do đó ngay từ lúc thực hiện được phổ cập giáo dục tiểu học thì các nền kinh tế Đông Á đã chuyển hướng qua mở rộng giáo dục trung học và thực hiện chính sách phổ cập giáo dục trung học và chú trọng đầu tư vào cấp giáo dục này.
Nhật Bản cùng các nước công nghiệp đã cực kỳ thành công trong quá trình thực hiện chính sách mới trên là vì Nhật Bản đã có chính sách mở rộng và tập trung đầu tư thích đáng nên qui mô mở rộng giáo dục trung học ngày càng tăng; mặt khác chính sách CNH đã được đề ra sau thời điểm những nền kinh tế Đông Á thực hiện thành công phổ cập giáo dục tiểu học, đã lôi kéo được hầu hết lực lực lượng lao động vào quá trình sản xuất và do vậy đã thúc đẩy nền kinh tế nhanh chóng chuyển sang hoạt động công nghiệp có giá trị tăng cao. Trong những năm 1970, giáo dục trung học tại những nền kinh tế công 8 nghiệp hoá đã thu hút được sự đầu tư lớn thông qua những chương trình đầu tư vào 3 cấp giáo dục: tiểu học, trung học và đại học. Đồng thời chính sách mở rộng giáo dục trung học đã chú trọng cả phương diện văn hoá của giáo dục trung học và kể cả phương diện giáo dục nghề nghiệp cấp trung học. Từ những năm 1980, việc toàn cầu hoá kinh tế đã trở nên một xu hướng nổi bật vì với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, cho nên lượng kiến thức được sinh ra đời ngày càng lớn và thay đổi rất nhiều, do đó sự cạnh tranh giữa những nền kinh tế thị trường và các công ty càng gay gắt.
Thực tế trên đòi hỏi mỗi nền kinh tế phải có được đội ngũ lao động trình độ cao ngoài nắm chắc những kiến thức căn bản còn phải cập nhập liên tục những tiến bộ khoa học kỹ thuật và có óc sáng tạo, năng động, dám nghĩ dám làm, linh hoạt và chịu mạo hiểm. Trước những nhu cầu đòi hỏi trên các nền kinh tế Đông Á đã dồn nhân lực thực hiện cải tổ toàn diện nền giáo dục và đào tạo kể cả về hình thức và nội dung giáo dục nhằm đảm bảo cơ hội thuận lợi nhất cho mọi người dân được học và tiếp thu kiến thức suốt đời. Bên cạch việc giáo dục phổ thông, chính phủ những nước thuộc khối Đông Á cũng chú trọng phát triển đào tạo nghề đầu tiên vì Những nước Đông Á tin vào lực lượng lao động có lành nghề là cầu nối giữa những nhà nghiên cứu và doanh nghiệp đồng thời là lực lượng nòng cốt cho phát triển. Các nước Đông Á cũng thực hiện giáo dục nghề nghiệp bước đầu từ cuối cấp trung học và cả hậu trung học.
Trong những phương thức đào tạo nghề thì những nước Đông Á có phương thức phát triển nhất là đào tạo nghề ngay ở chỗ lao động (phổ biến nhất là Đài Loan và Nhật bản – Hàn Quốc). Phương thức đào tạo này bảo đảm được nguyên lý gắn kết đào tạo với thực hành và hoàn toàn không có những mâu thuẫn giữa cung – cầu là lao động được đào tạo bởi vì mỗi doanh nghiệp thực hiện đào tạo chính theo yêu cầu của bản thân doanh nghiệp. Nhật Bản đang tiến hành cải tổ giáo dục để đào tạo ra những nhân tài 9 có khả năng và sáng tạo hơn nữa, đáp ứng với nhu cầu phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao của quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Cải cách này bao gồm xoá bỏ sự đồng nhất và bình đẳng quá mức trong giáo dục, xoá bỏ những lý thuyết suông trong các nhà trường trung học và tăng cường hơn phần thực hành, chuyển đổi dạy và học từ việc "thày giảng, trò ghi chép một cách máy móc" sang việc "thày gợi mở vấn đề và trò tích cực tham gia bàn luận" và giảm thiểu sự can thiệp quá mức của Chính phủ nhằm tăng cường sự độc lập và tự chủ của chính quyền địa phương và mỗi trường học đối với những lĩnh vực liên quan.
Ngoài ra, Nhật Bản đã triển khai Chương trình thiên niên kỷ "Millennium Project" vào cuối năm 1999 nhằm cải cách giáo dục. Mục tiêu là cho phép máy tính và Internet được sử dụng phổ biến ở tất cả các cấp trung học từ năm 2001 và tạo điều kiện cho phép máy tính có thể sử dụng để dạy và học tập ở hầu hết những trường công từ năm 2005. Đồng thời, chính phủ Nhật Bản cũng đang mở rộng việc dạy tiếng Anh trên Internet và cho phép những giáo viên tiếng Anh bản xứ tham gia giảng dạy ở bậc tiểu học, để bảo đảm rằng mọi người dân đều sử dụng thành thạo tiếng Anh trong công tác giảng dạy của bản thân khi tốt nghiệp. Trong khi đó tại các nước ASEAN do sự mở rộng mạng lưới giáo dục trung học đã không theo kịp tiến trình CNH đã tạo ra một số bất ổn trên thị trường lao động.
Philippin mở rộng giáo dục vượt quá sức nhu cầu của CNH và cũng không đi cùng với tốc độ phát triển kinh tế nên đã xảy ra hiện tượng thất nghiệp có trình độ lớn. Do đó trên thực tiễn Philippin đã quyết định lựa chọn biện pháp xuất khẩu lao động nhằm tạo công ăn việc làm đối với lượng lao động dôi dư. Ngược lại, tại một khu vực mà những nước như Thái Lan, Indonexia và Malayxia giáo dục trung học đã không đáp ứng được nhu cầu đối với lao động có kĩ năng càng cao của nền kinh tế. Như vậy, điều then chốt làm cho chiến lược mở rộng giáo dục trung 10 học của Nhật Bản ở những nước công nghiệp hoá mới tốt hơn các nước ASEAN là Nhật Bản đã sớm nhìn ra những nhu cầu đối với lao động có kĩ năng cao ngày một gia tăng cho phát triển và sớm có sự thay đổi đối với hệ thống đào tạo nhằm tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu đó.
Hay nói một cách khác là vấn đề đào tạo theo nhu cầu tại Đông Á đã thực sự thể hiện rất rõ vai trò cùng sức ảnh hưởng của giáo dục đến phát triển kinh tế. Quan điểm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu nhân lực địa phương tại nước ta đã có lịch sử khá lâu đời nhưng để nhìn ra hết được giá trị của nó thì cho đến thời điểm hiện tại vấn đề này mới thật sự được coi trọng và thành vấn đề lớn của toàn nước. Ngay tại văn kiện chính trị của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII trước Hội nghị Đại biểu toàn quốc lần thức VIII của Đảng (6/1996), Đảng ta đã xác định: Giáo dục – đào tạo là quốc sách số một để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả 3 phương diện mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy tác dụng.
Phương hướng chủ yếu của giáo dục đào tạo Việt Nam những năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH).