Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nguồn nhân lực được xác định là nhân tố trung tâm, quyết định sự phát triển và tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững của mỗi quốc gia cũng như từng tổ chức, doanh nghiệp. Quan điểm này đã được khẳng định xuyên suốt trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (Đại hội IX và Đại hội X), nhấn mạnh việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển khoa học - công nghệ với giáo dục và đào tạo nhằm tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Viện Công nghệ xi măng VICEM (thuộc Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam) được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị đào tạo trực thuộc, giữ vai trò đầu mối nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành xi măng, vật liệu xây dựng. Mặc dù đã có sự phát triển về số lượng và chất lượng đội ngũ, hoạt động đào tạo tại Viện trong giai đoạn đầu thành lập vẫn bộc lộ nhiều bất cập do áp dụng phương thức truyền thống, công tác xây dựng chương trình còn mang tính đối phó ("yếu đâu đào tạo đấy") và chịu ảnh hưởng từ các biến động kinh tế. Trước yêu cầu phát triển của ngành, tác giả Tạ Xuân Hưng đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp nhằm phân tích thực trạng và tìm ra các giải pháp tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực tại đơn vị.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong các viện nghiên cứu.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viện Công nghệ xi măng VICEM giai đoạn 2011–2015, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viện đến năm 2020.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viện Công nghệ xi măng VICEM.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Trụ sở chính của Viện và đơn vị trực thuộc là Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng (Hải Phòng).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng thu thập trong giai đoạn 2011–2015 (thực tập từ ngày 30/11/2015 đến 25/02/2016); các giải pháp và phương hướng định hình đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Nguồn nhân lực: Được tiếp cận theo nghĩa hẹp (nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động) và nghĩa rộng (toàn bộ các cá nhân từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia vào quá trình lao động), xem xét trên hai phương diện số lượng và chất lượng nguồn vốn nhân lực.
  • Đào tạo nguồn nhân lực: Là các hoạt động học tập có tổ chức nhằm giúp người lao động nắm vững hơn công việc, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng và thái độ để thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn.
  • Hình thức đào tạo:
    • Đào tạo trong công việc: Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc, học nghề, kèm cặp - chỉ bảo, luân chuyển và thuyên chuyển công việc.
    • Đào tạo ngoài công việc: Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp, cử đi học tại các trường chính quy, tổ chức bài giảng/hội nghị/hội thảo, đào tạo kỹ năng xử lý công văn giấy tờ (in-basket), đào tạo kiểu phòng thí nghiệm/mô phỏng, đào tạo theo chương trình hóa có máy tính trợ giúp.
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động (khả năng, trình độ, nhu cầu, sự sẵn sàng đào tạo - dựa trên khung lý thuyết của Boudreau do TS. Vũ Trọng Hùng dịch năm 2002); nhóm nhân tố quản lý (mục tiêu chiến lược, kinh phí, trình độ giảng viên, công tác đánh giá thực hiện công việc, chính sách đãi ngộ); nhóm nhân tố môi trường và pháp lý (công nghệ, cơ sở vật chất, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP, Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Kết hợp thu thập thông tin thứ cấp (báo cáo tổng kết đào tạo, quy chế tổ chức, các quyết định thành lập, đề cương đào tạo của VICEM) và thông tin sơ cấp (tiếp xúc, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý và người lao động trong nội bộ Viện).
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu số liệu qua các năm (2012–2015) để đánh giá quy mô, chất lượng và hiệu quả của các khóa đào tạo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác đào tạo nguồn nhân lực của các Viện nghiên cứu

Chương 1 tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị và đào tạo nhân sự trong tổ chức nghiên cứu:

  • Xác định vị trí, vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với ba chủ thể: doanh nghiệp/tổ chức (nâng cao năng suất, giảm chi phí giám sát, tạo nguồn kế cận, xây dựng lợi thế cạnh tranh), người lao động (cập nhật kỹ năng, thích ứng công nghệ, thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân) và xã hội (thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững).
  • Phân loại chi tiết các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc và tách rời nơi làm việc, phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp đối với đối tượng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý.
  • Phân tích các nhân tố tác động đa chiều đến hoạt động đào tạo, bao gồm động cơ học tập của học viên, chính sách tiền lương - đãi ngộ, chất lượng giảng viên nội bộ và thỉnh giảng, năng lực tài chính và định hướng chiến lược của tổ chức.

Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viện công nghệ xi măng VICEM

Chương này đi sâu khảo sát tổ chức bộ máy và kết quả hoạt động đào tạo thực tế tại Viện Công nghệ xi măng VICEM từ khi thành lập theo Quyết định số 01008/QĐ-XMVN ngày 15/06/2011:

Cơ cấu tổ chức và nhân sự của Viện: Viện hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí thường xuyên, bao gồm khối phòng ban chức năng (Tổ chức Hành chính, Quản lý đào tạo, Tài chính - Kế toán, Ban Hợp tác quốc tế, Thông tin - Thư viện) và các đơn vị trực thuộc (Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng, Trung tâm nghiên cứu tư vấn quản lý và phát triển, Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ, Tạp chí Xi măng, các chi nhánh/phân viện).

Đơn vị Quy mô nhân sự hiện tại (Giai đoạn 1) Trình độ chuyên môn Kế hoạch bổ sung nhân sự (Giai đoạn 2)
Trụ sở chính của Viện 37 người 36 đại học trở lên, 01 lái xe 41 người
Trường Trung cấp nghề kỹ thuật 45 người 24 đại học (60%), 04 cao đẳng (10%), còn lại trung cấp và sơ cấp 168 người (khi nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề VICEM)

Thực trạng triển khai các chương trình đào tạo (2012–2015):

Tại Trụ sở chính của Viện: Viện thực hiện đào tạo theo hai hình thức chính: các lớp theo nhiệm vụ Tổng công ty giao và các lớp theo yêu cầu/dịch vụ của các đơn vị thành viên.

Năm Tổng số lớp/chương trình Do nhiệm vụ Tổng công ty giao Do Viện tự tổ chức / theo yêu cầu Số lượt người tham dự Ghi chú các chương trình trọng điểm
2012 20 17 3 680 16 khóa trong nước, 04 khóa nước ngoài; tiếp tục khóa Cao học QTKD tại AIT (Thái Lan).
2013 27 6 21 906 Hoàn thành 100% (14/14 học viên) bảo vệ khóa Cao học QTKD tại AIT; 02 khóa phát sinh theo nhiệm vụ VICEM.
2014 15 0 15 692 Đào tạo cho 07 công ty xi măng thành viên (Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Hà Tiên 1, Hoàng Mai, Bút Sơn, Tam Điệp, Đồng Lâm).
2015 21 9 12 440 (riêng 9 khóa cho đơn vị) 20 khóa hoàn thành; mở lớp vận hành sản xuất trên hệ thống Cemulator cho Xi măng Cẩm Phả.
Tổng 83 47 36 -

Tại Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng: Giai đoạn 2012–2015, Trường đã đào tạo tổng cộng 4.779 lượt học viên thông qua các hệ đào tạo chính quy, ngắn hạn, nâng bậc và liên kết:

Năm Tổng lượt học viên Nâng bậc Đào tạo chuyển tiếp Hệ dài hạn Hệ ngắn hạn Theo hợp đồng
2012 418 418 - - - -
2013 1.012 377 129 258 248 -
2014 1.230 300 - - 930 -
2015 2.119 257 548 644 604 66
Tổng 4.779 902 2.200 195 934 548

Riêng năm 2015, Trường tổ chức thi tốt nghiệp cho 1.065 học sinh (349 dài hạn, 716 ngắn hạn/nâng bậc) với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 97% (Khá - Giỏi: 30%, Trung bình khá: 40%, Trung bình: 27%, Không đạt: 3%). Hạnh kiểm đạt loại Tốt chiếm 87%, Khá chiếm 12%, Trung bình chiếm 1%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm đạt 90%.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viện công nghệ xi măng VICEM

Chương 3 xây dựng định hướng phát triển nguồn nhân lực gắn liền với chiến lược của ngành xi măng và đề xuất 6 nhóm giải pháp cùng các kiến nghị:

  • Định hướng chiến lược: Quản trị nguồn nhân lực dựa trên năng lực cốt lõi; áp dụng "phương pháp kéo" (cán bộ quản lý đứng đầu giỏi để dẫn dắt cấp dưới); phát triển đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm từ các nhà máy sản xuất (Hoàng Thạch, Bút Sơn...) và duy trì chuyên gia thỉnh giảng giàu kinh nghiệm.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện:
    1. Xác định chính xác nhu cầu đào tạo: Thực hiện khảo sát, đánh giá kỹ năng thực tế của từng nhóm chức danh trước khi lập kế hoạch.
    2. Xây dựng kế hoạch đào tạo theo từng giai đoạn: Lập kế hoạch theo năm và giai đoạn trung hạn, khắc phục tính thụ động.
    3. Lựa chọn chính xác đối tượng đào tạo: Tránh tình trạng cử cán bộ đi học không đúng chuyên môn nghiệp vụ.
    4. Quản lý và chuẩn hóa quy trình đào tạo: Đưa phần mềm quản lý vào theo dõi tiến độ, xây dựng nội quy chặt chẽ.
    5. Tính toán và phân bổ chi phí đào tạo hợp lý: Đảm bảo dự toán minh bạch, tối ưu nguồn kinh phí tự chủ và kinh phí cấp từ Tổng công ty.
    6. Đánh giá hiệu quả công việc sau đào tạo: Theo dõi năng suất và mức độ chuyển giao kiến thức vào thực tế công việc sau khóa học.
  • Kiến nghị: Đề xuất Tổng công ty VICEM và các Bộ, Ngành tháo gỡ cơ chế tài chính, cấp ngân sách nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật cho Trường Trung cấp nghề (hướng tới chuẩn Cao đẳng nghề).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ số liệu

  • Viện đã tổ chức thực hiện 83 lớp/chương trình bồi dưỡng chuyên môn, kỹ thuật và quản lý cho hàng nghìn lượt cán bộ kỹ thuật và quản lý trong toàn hệ thống VICEM (2012–2015).
  • Đã đào tạo thành công 14 học viên hoàn thành chương trình Thạc sĩ Quản trị kinh doanh liên kết với Viện Công nghệ Châu Á (AIT).
  • Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng đã đào tạo 4.779 lượt học viên, cung cấp nguồn công nhân kỹ thuật chất lượng cho các nhà máy, duy trì tỷ lệ tốt nghiệp đạt 97% và tỷ lệ có việc làm đạt 90% (năm 2015).

Giải pháp và đóng góp của nghiên cứu

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và số liệu chi tiết về thực trạng đào tạo tại một viện nghiên cứu đặc thù của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng trong giai đoạn chuyển đổi mô hình hoạt động.
  • Đề xuất mô hình phát triển nhân lực kết hợp giữa giảng viên cơ hữu, chuyên gia đầu ngành hưu trí và cán bộ quản lý kiêm nhiệm từ các nhà máy thực tế nhằm gắn kết lý thuyết với dây chuyền công nghệ sản xuất xi măng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do chịu ảnh hưởng từ chính sách tiết giảm chi phí sản xuất 5%–10% của Tổng công ty (theo Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2012), kinh phí đào tạo bị thu hẹp, dẫn đến một số khóa đào tạo nước ngoài và hội thảo chuyên sâu với đối tác quốc tế (Polysius, Thái Lan) không thực hiện được theo đúng kế hoạch ban đầu. Đề tài chưa khảo sát định lượng sâu bằng mô hình hồi quy về mức độ tác động của đào tạo đến năng suất lao động.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính hoàn toàn theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP gắn với đề án nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề VICEM; xây dựng hệ thống phần mềm quản lý đào tạo và khung đánh giá năng lực chuẩn cho từng vị trí kỹ thuật ngành xi măng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị nhân lực, Kinh tế lao động tham khảo phương pháp phân tích thực trạng đào tạo tại doanh nghiệp nhà nước và viện nghiên cứu chuyên ngành.
  • Giá trị thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu và các mẫu biểu cơ cấu tổ chức, định biên lao động, danh mục chương trình bồi dưỡng kỹ thuật xi măng cho cán bộ làm công tác tổ chức - nhân sự tại Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam và các đơn vị thành viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Viện Công nghệ xi măng VICEM được thành lập trên cơ sở nào và có những đơn vị trực thuộc nào?

Viện được thành lập theo Quyết định số 01008/QĐ-XMVN ngày 15/06/2011 của Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam, tổ chức lại từ Trung tâm đào tạo xi măng và Trường Trung cấp kỹ thuật xi măng Hải Phòng. Các đơn vị trực thuộc gồm: Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng, Trung tâm nghiên cứu tư vấn quản lý và phát triển, Trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ, Tạp chí Xi măng, Phân viện miền Trung và chi nhánh miền Nam.

2. Quy mô nhân sự tại Trụ sở chính và Trường Trung cấp nghề trong giai đoạn 2011–2015 như thế nào?

Trụ sở chính của Viện có 37 cán bộ, nhân viên (36 người có trình độ đại học trở lên và 01 lái xe), kế hoạch bổ sung thêm 41 người ở giai đoạn sau. Trường Trung cấp nghề có 45 cán bộ, giáo viên (24 đại học, 04 cao đẳng, còn lại là trung cấp và sơ cấp), dự kiến bổ sung 168 người khi nâng cấp lên Trường Cao đẳng nghề.

3. Quy mô đào tạo của Trường Trung cấp nghề kỹ thuật xi măng giai đoạn 2012–2015 đạt kết quả ra sao?

Tổng lượt học viên được đào tạo là 4.779 lượt người (nâng bậc: 902; đào tạo chuyển tiếp: 2.200; hệ dài hạn: 195; hệ ngắn hạn: 934; theo hợp đồng: 548). Năm 2015, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 97% và tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường đạt 90%.

4. Những hạn chế lớn nhất trong công tác đào tạo tại Viện được tác giả chỉ ra là gì?

Các hạn chế chính gồm: chương trình đào tạo còn mang tính chắp vá ("yếu đâu đào tạo đấy"); việc cử học viên tham gia một số khóa chưa đúng đối tượng; phương pháp giảng dạy của một số giảng viên nặng về truyền đạt một chiều; cơ sở vật chất, xưởng thực hành tại Trường Trung cấp nghề đã xuống cấp, lạc hậu; chưa ứng dụng phần mềm quản lý đào tạo chuyên dụng; kinh phí bị cắt giảm do tình hình suy thoái kinh tế chung.

5. Tác giả đề xuất định hướng phát triển đội ngũ giảng viên của Viện như thế nào?

Viện cần kết hợp đa dạng các nguồn giảng viên: duy trì đội ngũ giảng viên thỉnh giảng là các Giáo sư, Tiến sĩ từ các trường đại học; mời các cán bộ lãnh đạo, chuyên gia xi măng đã nghỉ hưu có sức khỏe tham gia giảng dạy; đồng thời mời các kỹ sư, cán bộ quản lý đương nhiệm tại các nhà máy xi măng thành viên (VICEM Hoàng Thạch, Bút Sơn...) làm giảng viên kiêm nhiệm để chia sẻ kinh nghiệm thực tế.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Tạ Xuân Hưng đã phản ánh bức tranh thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Viện Công nghệ xi măng VICEM trong giai đoạn 2011–2015. Bằng phương pháp thống kê và phân tích hoạt động quản trị nhân sự, tác giả đã làm rõ các kết quả đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về cơ sở vật chất, đối tượng đào tạo và phương pháp giảng dạy. Hệ thống 6 giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, bám sát định hướng phát triển của ngành xi măng Việt Nam đến năm 2020.