Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu thực trạng việc làm và các giải pháp định hướng đào tạo cử nhân giáo dục thể chất trường đại học thể dục thể thao bắc ninh theo nhu cầu

Luận án tiến sĩ giáo dục học phân tích thực trạng việc làm và đề xuất giải pháp đào tạo cử nhân giáo dục thể chất tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh.

Chuyên ngành

Giáo dục thể chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

208
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Mục đích nghiên cứu

0.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Ý nghĩa khoa học của luận án

0.6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm có liên quan

1.2. Giải pháp định hướng

1.3. Nhu cầu xã hội

1.4. Chất lượng đào tạo

1.5. Cử nhân Giáo dục thể chất

1.6. Chuẩn đầu ra

1.7. Nguồn nhân lực thể dục thể thao

1.8. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học

1.9. Định hướng đào tạo nguồn nhân lực Thể dục thể thao thời kỳ hội nhập quốc tế

1.10. Xu hướng nghề nghiệp trong lĩnh vực Thể dục thể thao

1.11. Phân loại nghề nghiệp trong lĩnh vực Thể dục thể thao

1.12. Khái quát lịch sử đào tạo của Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

1.13. Khái quát về Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

1.14. Chương trình đào tạo đại học Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

1.15. Các công trình nghiên cứu có liên quan

1.16. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.17. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.18. Khoảng trống trong các nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.3. Phương pháp phỏng vấn

2.4. Phương pháp điều tra xã hội học

2.5. Phương pháp toán học thống kê

2.6. Tổ chức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Thực trạng việc làm của cử nhân Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.2. Đặc điểm của sinh viên tốt nghiệp Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.3. Thực trạng việc làm của cử nhân Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.4. Xác định giải pháp định hướng đào tạo cử nhân Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh theo nhu cầu xã hội

3.5. Xác định nguyên nhân hạn chế trong thực trạng việc làm của cử nhân Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

3.6. Lựa chọn và kiểm định giải pháp định hướng đào tạo cử nhân Ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

0.7. A. Kiến nghị

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Thực trạng việc làm

Phần này phân tích thực trạng việc làm của cử nhân giáo dục thể chất tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh. Dữ liệu cho thấy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm có xu hướng giảm dần, từ 81% năm 2001 xuống còn hơn 60% năm 2014. Nguyên nhân chính bao gồm sự không tương thích giữa chương trình đào tạonhu cầu thị trường lao động. Các yếu tố như kỹ năng nghề nghiệp, chất lượng đào tạo, và xu hướng việc làm cũng được xem xét để đánh giá toàn diện.

1.1. Đặc điểm việc làm

Phân tích đặc điểm việc làm của cử nhân giáo dục thể chất cho thấy phần lớn làm việc trong các trường học và cơ quan quản lý thể dục thể thao. Tuy nhiên, mức độ hài lòng với công việc và kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là khả năng đáp ứng yêu cầu công việc thực tế.

1.2. Nguyên nhân thất nghiệp

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp bao gồm thiếu kỹ năng nghề nghiệp, chương trình đào tạo chưa cập nhật, và sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động. Các giải pháp cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu xã hội.

II. Giải pháp đào tạo

Phần này đề xuất các giải pháp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Các giải pháp bao gồm cập nhật chương trình đào tạo, tăng cường kỹ năng nghề nghiệp, và hợp tác với các đơn vị sử dụng lao động để đảm bảo sinh viên tốt nghiệp có cơ hội việc làm tốt hơn.

2.1. Cập nhật chương trình đào tạo

Cần cập nhật chương trình đào tạo để phù hợp với xu hướng việc làmnhu cầu xã hội. Việc này bao gồm tích hợp các môn học thực tiễn và tăng cường đào tạo kỹ năng nghề nghiệp như quản lý, hướng dẫn thể dục thể thao.

2.2. Hợp tác với đơn vị sử dụng lao động

Hợp tác với các đơn vị sử dụng lao động giúp sinh viên có cơ hội thực tập và tiếp cận thị trường lao động sớm hơn. Điều này không chỉ nâng cao kỹ năng nghề nghiệp mà còn tăng cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

III. Đánh giá chất lượng đào tạo

Phần này đánh giá chất lượng đào tạo của Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh thông qua các tiêu chí như tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng, và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội. Kết quả cho thấy cần cải thiện chương trình đào tạo và tăng cường kỹ năng nghề nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo.

3.1. Tỷ lệ sinh viên có việc làm

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm giảm dần qua các năm, từ 81% năm 2001 xuống còn hơn 60% năm 2014. Điều này phản ánh sự cần thiết phải cải thiện chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.

3.2. Mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng

Mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng đối với cử nhân giáo dục thể chất còn thấp, đặc biệt là về kỹ năng nghề nghiệp và khả năng đáp ứng yêu cầu công việc. Cần tăng cường đào tạo thực tiễn để cải thiện tình hình.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu thực trạng việc làm và các giải pháp định hướng đào tạo cử nhân giáo dục thể chất trường đại học thể dục thể thao bắc ninh theo nhu cầu

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của người lao động để bảo đảm cuộc sống và phát triển toàn diện [77]. Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ đối với cộng đồng, xã hội. Vì vậy, giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc là trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ sở đào tạo, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội. Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO: International labour organization), Việt Nam sẽ có khả năng tạo thêm được 6 triệu việc làm, tương đương với 1/10 số việc làm tăng thêm đến năm 2025 của toàn bộ khối ASEAN do tác động từ việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).

Đặc biệt, với hiệp định thương mại tự do ở mức cam kết cao như TPP sẽ mang lại những cơ hội lớn cho thị trường lao động trong nhiều lĩnh vực [96]. Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách cũng như thu hút sự đầu tư nghiên cứu của các nhà khoa học. Đó là tình trạng thất nghiệp, chất lượng nguồn lao động, mất cân đối cơ cấu lực lượng lao động, quản lý và phát triển nguồn lao động, thu nhập, hiệu quả sử dụng lao động…Trong đó sự không tương hợp giữa đào tạo đại học và nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội là một trong các nguyên nhân chính. Các con số thống kê phản ánh quy mô sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường không tìm được việc làm có xu hướng gia tăng: Tỉ lệ lao động có trình độ đào tạo từ đại học trở lên trong cơ cấu thất nghiệp cả nước tăng từ 10,1% năm 2012 lên 14,0% năm 2013 và 16,5% năm 2014 [22], [23], [24], [25].

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ XIII Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã ban hành Nghị Quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã xác định quan điểm chỉ đạo: "Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp 2 ứng yêu cầu số lượng”. Tuy nhiên, sau 5 năm triển khai Nghị quyết, đến nay, tình trạng sinh viên chưa có việc làm vẫn còn nhiều.

Theo công bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng Cục thống kê thì đến hết quý IV năm 2018, cả nước có hơn 1 triệu người thất nghiệp, trong đó có 135,8 nghìn người có trình độ đại học trở lên bị thất nghiệp. Đây là một trong những vấn đề mang tính thời sự, tạo nên những thách thức gay gắt không chỉ đối với các cơ sở giáo dục đại học mà còn là bài toán nan giải đối với các nhà quản lý giáo dục nói chung và quản lý giáo dục ngành TDTT nói riêng. Trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 08 – NQ/TW, ngày 1 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, Chính phủ xác định: “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tập trung xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, giáo viên, HLV, cán bộ quản lý có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao” là nhiệm vụ trọng tâm [33]. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên TDTT cũng được xác định trong Quy hoạch phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030: “Tăng cường đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục, thể thao”; “Phát triển GDTC và thể thao trường học”; “Phát triển các CLB thể dục, thể thao cấp cơ sở” là 3 trong số 8 đề án cần xây dựng và hoàn thiện để đến năm 2020, thể dục, thể thao cơ bản được phát triển đồng đều giữa các đối tượng, rộng khắp giữa các vùng, miền, các địa phương trong cả nước, góp phần nâng cao sức khỏe và tuổi thọ của người Việt Nam, vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh [34].

Như vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực TDTT là một trong những nhiệm vụ quan trọng đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng trong giai đoạn hiện nay. Trường Đại học TDTT Bắc Ninh là một trong 5 trường Đại học TDTT của nước ta đào tạo nguồn nhân lực TDTT có chất lượng cao. Số lượng sinh viên hàng năm vào khoảng 1.500 người, cung cấp nguồn nhân lực TDTT cho cả nước, đặc biệt là khu vực phía Bắc. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê của Nhà trường về sinh viên tốt nghiệp có việc làm cho thấy, 81% sinh viên tốt nghiệp năm 2001 và 2002 tìm được việc làm sau 6 tháng; hơn 60% sinh viên tốt nghiệp năm 2010 và năm 2014 có việc làm sau 1 năm ra trường.

Như vậy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp tìm được 3 việc làm có xu hướng giảm dần, thời gian tìm việc lâu hơn và ngày càng khó khăn. Bên cạnh 3 ngành học: Huấn luyện thể thao, Y sinh học TDTT, Quản lý TDTT thì Giáo dục thể chất là Ngành nhận được nhiều sự quan tâm của người học. Ngành GDTC thuộc nhóm ngành đào tạo giáo viên, có mã ngành 7140206 [9]. Sau khi tốt nghiệp, Cử nhân Ngành GDTC trở thành giáo viên GDTC trong các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Là cán bộ chuyên môn về lĩnh vực TDTT trong các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý xã hội về TDTT hoặc có thể là cán bộ tổ chức, hướng dẫn hoạt động TDTT tại các đơn vị TDTT cơ sở, các CLB TDTT.

Năm 2015, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh là Trường duy nhất trong khối ngành TDTT được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án xây dựng Trường trở thành Trường Trọng điểm quốc gia với mục tiêu là cơ sở đào tạo được bảo đảm đủ các điều kiện để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực TDTT chất lượng cao; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ TDTT hàng đầu Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2020 trở thành Trường Trọng điểm quốc gia theo hướng chuẩn hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế [20]. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu đó, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh cần rất nhiều sự đổi mới mà trong đó, những hạn chế còn tồn tại trong công tác đào tạo cần được đặc biệt chú trọng. Hạn chế này đã được đề cập trong Đề án chiến lược phát triển Trường Đại học TDTT Bắc Ninh giai đoạn 2014-2020: “Sản phẩm đào tạo của Trường chưa thực sự là nguồn nhân lực trình độ cao; Hình thức tổ chức dạy học còn lạc hậu, phương pháp giảng dạy chưa đổi mới, phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo còn mang tính chủ quan…” [101].

Sinh viên tốt nghiệp đại học là sản phẩm của đào tạo đại học. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước với bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc sinh viên tốt nghiệp và tìm được việc làm phù hợp với ngành đào tạo là chứng nhận xã hội có giá trị cao nhất và thuyết phục nhất về chất lượng đào tạo của một trường đại học. Hội nhập quốc tế đang mang đến nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn không chỉ đối với Trường Đại học TDTT Bắc Ninh mà còn đối với các trường đại học trong khối ngành TDTT. Việc nắm bắt và khai thác được những cơ hội đó, hay để nó trôi đi phụ thuộc chủ yếu vào tầm nhìn, chiến lược, phương thức điều hành của những nhà lãnh đạo, quản lý.

Nếu không đổi mới về nhận thức, về cách lãnh đạo, quản lý, điều hành 4 giáo dục đại học hiện còn mang nặng tính bao cấp thì khó khăn, thách thức ngày càng lớn. Do đó, việc nghiên cứu, tìm giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế của Nhà trường góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực TDTT đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và nhu cầu TDTT của xã hội là vấn đề cấp thiết. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực TDTT và thực trạng việc làm của họ thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước: Bùi Quang Hải (2014) [53], Nguyễn Đại Dương (2015) [46], Phạm Tuấn Hiệp (2015) [57], Võ Thị Kim Loan (2014) [65], Đặng Ngọc Sự (2012) [83], Yang Xiaodong (2009) [120], Zhang Cai (2014) [123]… Các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã đánh giá thực trạng về nhu cầu của xã hội đối với nhân lực TDTT, thực trạng việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, nhưng chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu thực trạng việc làm và mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của cử nhân Ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh. Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng việc làm và các giải pháp định hướng đào tạo cử nhân GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh theo nhu cầu xã hội” Mục đích nghiên cứu: Thông qua đánh giá thực trạng việc làm của cử nhân GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, xác định ưu điểm, hạn chế và phân tích những nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng tới quá trình tìm kiếm việc làm của khách thể nghiên cứu.

Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp định hướng đào tạo cử nhân GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh gắn với nhu cầu xã hội. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Nhiệm vụ 1. Thực trạng việc làm của cử nhân GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh. Xác định giải pháp định hướng đào tạo cử nhân GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh theo nhu cầu xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thực trạng việc làm và giải pháp đào tạo cử nhân giáo dục thể chất tại Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh là một tài liệu chuyên sâu phân tích thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành giáo dục thể chất, đồng thời đề xuất các giải pháp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhà trường cải thiện chương trình đào tạo mà còn hỗ trợ sinh viên tiếp cận cơ hội việc làm tốt hơn. Để hiểu rõ hơn về các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại cục thuế tỉnh hải dương, Luận văn một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức của đài tiếng nói việt nam trong tình hình mới, và Luận văn hoàn thiện công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức tại liên đoàn lao động nghệ an. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.