CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN c ô n g t á c đ à o t ạ o , B ổ i DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Cơ BẢN. Khái niệm cán bộ, công chức Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, Công chức ngày 26/02/1998 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã quy định rõ: "Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: 1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 2.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; 3. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành nghề chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; 4. Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; 5. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp" [11, 6].
Trong Điều 1 của Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã chỉ ra đối tượng công chức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan sau đây: "Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; cơ quan hành chính nhà nước ở 14 Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Toà án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân các cấp; cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học của Nhà nước; cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước; thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá của Nhà nước; các tổ chức sự nghiệp khác của Nhà nước; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong cơ quan, đơn vị quân đội và công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp". Từ những tiêu chí trên ta có thể phân loại cán bộ, công chức thành: - Cán bộ do bầu cử để đảm nhiệm vhức vụ theo nhiệm kỳ, gắn liền với chức vụ và mang nhiều tính chính trị. - Cán bộ do bổ nhiệm để giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động gắn liền với chuyên môn, nghiệp vụ được phân loại theo trình độ đào tạo, ngạch bậc chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp. - Công chức quản lý, điều hành công vụ là những người có thẩm quyền, quyền hạn giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý một cơ quan, một bộ phận trong cơ quan.
- Công chức chuyên môn là người phục vụ bằng công việc chuyên môn của mình. - Công chức thực hành nghiệp vụ, kỹ thuật là những người làm công tác thu thập, chuẩn bị tài liệu, phục vụ lãnh đạo ra các quyết định quản lý. Là cán bộ, công chức nhà nước, người cán bộ, công chức có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đó là căn cứ pháp lý, là phương tiện để cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ. Một trong số những quyền hạn cơ bản của cán bộ, công chức chính là quyền được tạo điền kiện để học tập nâng cao trình độ.
Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức nhà nước trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết Hội nghị Trung ương III Khoá VIII đã nêu rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [5, 66], Với một bề dầy truyền thống đấu tranh và trưởng thành dưới sự chăm lo, dìu dắt của Bác Hồ, của Đảng và Nhà nước, ngày nay đội ngũ cán bộ, công chức đã thực sự trở thành một lực lượng nòng cốt, có tính chất sống còn đối với sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia, là lực lượng chủ công đảm đương và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức nhà nước được thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản sau: - Trong mối quan hệ với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước: Cán bộ, công chức là người cụ thể hoá các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc sống, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, giúp cho Đảng hiểu rõ dân hơn, từ đó đưa ra những quyết sách hợp lòng dân, phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân, đổng thời giúp cho dân vững tin hơn vào lý tưởng và con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, một lòng một dạ kề vai sát cánh cùng với mọi lực lượng xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng vì mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. - Trong mối quan hệ với bộ máy Đảng, Nhà nước và đoàn thể: Cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thổng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức. Cán bộ, công chức là hạt nhân, đứng ở vị trí trung tâm của bộ máy Nhà nước, giữ vai trò quyết định trong việc hoạch định và thực thi các chính sách.
Tuy nhiên, cán bộ, công chức lại chịu sự chi phối của tổ chức bộ máy trong phương hướng và hành động. 16 - Trong mối quan hộ với chức trách công việc: Với chức năng là người thi hành công vụ, cán bộ công chức là người hoạch định ra các kế sách để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đồng thời là người tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thực hiện. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng và cơ cấu, vững mạnh về chuyên môn nghiệp vụ, trong sạch về phẩm chất chính trị là một nhân tố quyết định đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. - Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân: cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, vừa là người lãnh đạo đổng thời là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Thực tiễn cuộc sống mà tiêu biểu là phong trào cách mạng của nhân dân đã tôi luyện, thử thách, sàng lọc và sản sinh ra một đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng cao cả. Đồng thời, cán bộ, công chức cũng chính là người tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân đi đến thắng lợi cuối cùng. Công chức là đại diện cho Nhà nước, tiếng nói của công chức là tiếng nói của Nhà nước, là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân và với các tổ chức xã hội. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng - Đào tạo: là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ xảo, thái độ.
để hoàn thiện nhân cách cho một cá nhân, tạo điều kiện cho người học có thể bước vào nghề một cách có năng suất và hiệu quả. Nói một cách chung nhất, đào tạo được coi như một quá trình làm cho người học trở nên có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Quá trình đào tạo chủ yếu được tiến hành trong các cơ sở đào tạo như trường học, các trung tâm, học viện. theo mục tiêu, nội dung và chương trình có hệ thống cho mỗi khoá học với độ dài khác nhau cho mỗi trình độ cần đào 17 tạo, cuối khoá học người học được cấp chứng chỉ hay bằng tốt nghiệp.
Các cơ sở đào tạo cán bộ, công chức chủ yếu hiện nay của nước ta bao gồm Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Quốc gia, các trường thuộc Bộ, một số trường đại học và các trường chính trị của tỉnh. Xét về mặt thời gian, đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức để người học có văn bằng mới hoặc đạt được một trình độ cao hơn nên thời gian đào tạo thường dài hơn so với thời gian bổi dưỡng. Thời gian cho một khoá đào tạo thường tối thiểu là một năm trở lên, chẳng hạn như một người muốn có bằng cử nhân cần phải trải qua một thời gian đào tạo khoảng từ 4 đến 6 năm tuỳ theo từng trường đào tạo, cuối khoá học người học được cấp bằng tốt nghiệp. B ồ i dưỡng: là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động theo từng lĩnh vực chuyên môn.
Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn sẵn có để thực thi công việc hiện tại một cách có hiệu quả hơn. Kết quả của hoạt động bồi dưỡng là người học nhận được chứng chỉ công nhận kết quả. Với mục đích là bổ sung, cập nhật kiến thức mới có tính chất bổ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ hàng ngày, tiếp thu những kiến thức mới có liên quan tới lĩnh vực công tác chuyên môn, thời gian bồi dưỡng thường ngắn hơn nhiều so với thời gian đào tạo, thường chỉ một vài tuần, dài hơn có thể một vài tháng. Chẳng hạn như ở Đài Tiếng nói Việt Nam, hàng năm tổ chức hàng chục khoá bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức hoạt động trong các lĩnh vực như phóng viên - biên tập, kỹ thuật, kế hoạch - tài chính., thời gian của mỗi khoá bồi dưỡng thường từ 3 đến 5 ngày, đôi khi từ 1 tuần đến khoảng 1 tháng.
Cuối mỗi khoá bồi dưỡng, học viên thường được cấp chứng chỉ hoặc đôi khi đối với những lớp bồi dưỡng thời gian quá ngắn thì không nhất thiết phải cấp chứng chỉ.